foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt

+(084)0393.885.133
khoatiengviet@htu.edu.vn
Liên hệ



Picture1

             Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu phát biểu tại hội thảo. Ảnh: moj.gov.vn 

1. Nhà nước dân chủ là tổ chức chính trị của nhân dân do nhân dân tổ chức ra

Nhà nước dân chủ là tổ chức chính trị của nhân dân do nhân dân tổ chức ra. Hồ Chí Minh đã khẳng định việc nhân dân làm chủ nhà nước bằng con đường tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Hồ Chí Minh nhận thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân. Người quan điểm: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ" [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 6, tr.515].

Thông qua việc bầu Quốc hội và HĐND, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp, xây dựng nên một nhà nước hợp pháp theo ý nguyện của toàn dân. Theo Hồ Chí Minh: “Chế độ tuyển cử chúng ta thực hiện dân chủ, đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân. Mọi người công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử. Việc tuyển cử tiến hành theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 9, tr.591].Với vai trò là một nội dung làm chủ nhà nước của nhân dân, quyền bầu cử, ứng cử được ghi rõ trong Hiến pháp năm 1945, Hiến pháp năm 1959 do Hồ Chí Minh chỉ đạo soạn thảo và ban hành.

2. Nhà nước dân chủ là nhà nước đảm bảo cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội

Bản chất dân chủ của Nhà nước không chỉ thể hiện ở việc nhân dân tự tổ chức nên bộ máy nhà nước, mà còn thể hiện rõ ở việc huy động được sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quản lý các công việc của Nhà nước.

Trình bày báo cáo trước Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1959, trong phần về tổ chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nước" [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 9, tr.590]. Trong các tác phẩm của mình, Người thường đề cập đến những phương thức phổ biến thực hành dân chủ như: "Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết….Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng" [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 5, tr.297].

Xét từ góc độ thực thi quyền lực, việc bảo đảm cho nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước là một hình thức thực hiện dân chủ đặc thù, thể hiện bản chất tiến bộ của nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

3. Nhà nước dân chủ là nhà nước trong đó nhân dân có quyền bãi miễn những người không xứng đáng trong bộ máy nhà nước

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể hiện ở việc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp mà còn ở quyền bãi miễn họ, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, Nhà nước của dân, do nhân dân làm chủ còn bao hàm một nội dung khác, đó là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước. Như vậy, thực hiện chức năng kiểm soát nhà nước, nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng, có quyền được bảo đảm trên thực tế chứ không phải trên danh nghĩa, lời nói. Hồ Chí Minh viết: "Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân" [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 7, tr.361].

4. Nhà nước dân chủ là nhà nước thực hiện nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến của nhân dân

Thực hiện nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước kiểu mới là một trong những nội dung cơ bản nhằm dân chủ hóa tổ chức hoạt động của Nhà nước, bảo đảm nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Giá trị của nguyên tắc này đã được ghi nhận ở Hiến pháp năm 1945,  đó là điều khoản quy định hình thức công khai của các kỳ họp Nghị viện: Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe. Các báo chí được phép thuật lại các thảo luận và quyết nghị của Nghị viện. Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết định họp kín. Công khai mọi tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước không có nghĩa là công khai cả những vấn đề thuộc bí mật quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc này phải đặc biệt quan tâm tình hình tổ chức, hoạt động của chính bộ máy nhà nước. Ngoài việc công khai hóa những vấn đề chủ trương chính sách, pháp luật, lập kế hoạch còn phải kịp thời công khai cả những yếu kém, khuyết điểm, thiếu sót của bộ máy nhà nước, cán bộ công chức nhà nước. Không vì sợ mất uy tín mà để xử lý nội bộ, rút kinh nghiệm nội bội, che dấu những yếu kém, khuyết điểm đó. Trái lại, càng thẳng thắn vạch rõ và xử lý nghiêm minh, kịp thời những yếu kém, khuyết điểm của bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức sẽ làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, càng củng cố uy tín của Nhà nước đối với nhân dân.

5. Nhà nước dân chủ là nhà nước trong đó nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát, nhận xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước

Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ mối quan hệ giữa cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân với nhân dân, chỉ ra cơ chế và phương pháp hoạt động để chính quyền thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Người nói: "Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân, Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân" [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 7, tr.361- 362].

Quan điểm đó chỉ ra sự tác động qua lại giữa nhân dân - Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, đồng thời chỉ rõ vai trò, trách nhiệm làm chủ của nhân dân đối với các hoạt động của Nhà nước dân chủ. Việc giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình các hoạt động của Nhà nước được thực hiện thể hiện vai trò, trách nhiệm đó. Mặt khác, nhà nước phải có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện ngày càng tốt hơn để nhân dân thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình.

Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ và phát huy dân chủ, phát triển quyền dân chủ là một quy luật phát triển của Nhà nước XHCN, nó phản ánh nhu cầu tự hoàn thiện và là phương thức của quá trình tự hoàn thiện của Nhà nước XHCN.

6. Nhà nước dân chủ là nhà nước hết lòng vì nhân dân, thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

Bản chất dân chủ của Nhà nước còn thể hiện một cách tập trung ở mục đích tổ chức, hoạt động của nó: chăm lo cho dân về mọi mặt, vì hạnh phúc, cơm no áo ấm của nhân dân. Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ: “Muốn cho dân yên, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của nhân dân phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới, phải chăm lo cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy mọi việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân phải được chú ý” [Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 4, tr.47].

Vai trò của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống của nhân dân được Hồ Chí Minh đề cập đến trên mọi bình diện. Hồ Chí Minh viết: “Tục ngữ có câu “dân dĩ thực vi thiên” nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả. Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đời sống của nhân dân. Nếu dân đói Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi... Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì Chính sách của ta có hay mấy cũng không thực hiện được”[ Hồ Chí Minh , 2000, Toàn tập, tập 7, tr.572].

Về nội dung, nhà nước phục vụ nhân dân còn bao hàm cả việc biết điều chỉnh, kết hợp được các loại lợi ích của dân, của mọi người, giai cấp, tầng lớp xã hội. Đó là lợi ích gần, lợi ích xa, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích Trung ương và lợi ích địa phương, nhất là nông dân, do địa vị, tầm hạn chế của mình chỉ thấy được lợi ích cục bộ, trước mắt, không thể nhìn xa, trông rộng, nhà nước phải giải thích, hướng dẫn cho dân hiểu để họ từng bước thực hiện đảm bảo sự thống nhất lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội.

Tài liệu tham khảo

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 



Copyright © 2022 Copyright Khoa Tiếng Việt - Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.