Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lệ Hằng bảo vệ thành công luận án tiến sỹ

 

Sáng ngày 28 tháng 12 năm 2018, Học Viện Khoa học Xã hội đã tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp học Viện cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lệ Hằng, chuyên nghành Ngôn ngữ học (mã số: 9229020), đề tài luận án  “Ngữ âm tiếng Lộc Hà - Hà Tĩnh”.

Đến tham dự buổi lễ  về phía cơ sở đào tạo có GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp - Trưởng khoa Ngôn ngữ - Học viện Khoa học Xã hội, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học; về phía Trường Đại học Hà Tĩnh có TS. Đoàn Hoài Sơn - Hiệu phó phụ trách nhà trường cùng  bạn bè, đồng nghiệp, gia đình của nghiên cứu sinh.

Hội đồng bảo vệ luận án

Dưới sự chủ trì của GS.TS. Nguyễn Văn Lợi - Chủ tịch Hội đồng, Hội đồng bảo vệ luận án đã thông qua lý lịch khoa học, thành tích nghiên cứu, quá trình học tập và kết quả nghiên cứu khoa học của NCS Nguyễn Thị Lệ Hằng trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Các thành viên Hội đồng đánh giá cao những kết quả nghiên cứu học tập và những nỗ lực của NCS trong thời gian qua.

NCS Nguyễn Thị Lệ Hằng đang trình bày luận án

Các thành viên  trong Hội đồng đánh giá luận án là một công trình khoa học nghiêm túc, các kết quả thu được  mang giá trị khoa học và có ý nghĩa thực tiễn cao. GS.TS. Nguyễn Văn Lợi thay mặt Hội đồng chúc mừng nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lệ Hằng bảo vệ thành công luận án và chúc mừng Trường Đại học Hà Tĩnh đã có thêm một giảng viên có trình độ tiến sĩ.

Thay mặt tập thể Trường Đại học Hà Tĩnh, TS. Đoàn Hoài Sơn - Hiệu phó phụ trách nhà trường đã gửi lời chúc mừng đến nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lệ Hằng, đồng thời mong muốn giảng viên Nguyễn Thị Lệ Hằng sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành công trên con đường học vấn và đóng góp cho sự phát triển của Trường Đại học Hà Tĩnh trong tương lai.

Lãnh đạo Trường Đại học Hà Tĩnh, Khoa Tiếng Việt tặng hoa chúc mừng Tiến sĩ Nguyễn Thị Lệ Hằng

Lưu học sinh Lào của Trường Đại học Hà Tĩnh vui mừng dự Lễ tổng kết và nhận Chứng chỉ tốt nghiệp tiếng Việt

Sáng ngày 10/8, lưu học sinh Lào của 11 tỉnh: Bolykhamxay, Khammuon, Savannakhet, Xiengkhoang, Champasac, Xekong, Huaphan, Salavan,  Attapu, Viengchan và Thủ đô Viengchan học tại Trường Đại học Hà Tĩnh vui mừng dự Lễ tổng kết và nhận Chứng chỉ tốt nghiệp tiếng Việt.  

Buổi lễ diễn ra trong không khí vui tươi, phấn khởi của các em lưu học sinh với màn văn nghệ chào mừng đặc sắc.

Tới dự buổi lễ có đồng chí Ngô Hoài Nam – Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ Hà Tĩnh. Về phía trường Đại học Hà Tĩnh có PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng, cùng các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng ủy, ban Giám hiệu; các thầy giáo, cô giáo lãnh đạo các Khoa, Phòng, Ban, Trung tâm; các giáo viên giảng dạy tiếng Việt và các em lưu học sinh K9TV.

Báo cáo tổng kết khóa học đã làm nổi bật những thành tích đạt được của các em lưu học sinh đồng thời chỉ ra những hạn chế, khó khăn để rút kinh nghiệm cho việc đào tạo những khóa tiếp theo.

Tại buổi lễ PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng đã phát biểu chúc mừng, ghi nhận những kết quả đạt được của khóa học và căn dặn các em lưu học sinh luôn nỗ lực phấn đấu để tiếp tục chặng đường học tập tiếp theo.

Đáp lại tình cảm của các thầy giáo, cô giáo, em Moth (Lớp TV4) đã bày tỏ những tình cảm xúc động và lòng biết ơn sâu sắc đối với Trường Đại học Hà Tĩnh và các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giúp đỡ các em lưu học sinh khi sang học ở Việt Nam.

Các em lưu học sinh vui mừng nhận Giấy khen, Chứng chỉ tốt nghiệp tiếng Việt và quà lưu niệm của trường Đại học Hà Tĩnh.

Lễ hội cầu mưa – Một nét đôc đáo của văn hóa nước Lào

 

       Hằng năm, ở đất nước Triệu Voi có rất nhiều lễ hội nổi tiếng. Một trong những lễ hội đó là lễ hội cầu mưa được tổ chức vào tháng 5. Lễ hội này diễn ra vào những ngày khác nhau rải rác trong suốt cả tháng ở các làng trên khắp cả nước.

       Lễ hội cầu mưa là phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân Lào nhằm bày tỏ lòng thành kính với đất trời. Với quan niệm mọi biến chuyển của vũ trụ đều do Phật, trời, thần linh hoặc ma quỷ điều khiển, vì thế  con người muốn đạt được sở nguyện thì phải cầu nguyện, cúng khấn để được thần linh trợ giúp.

       Dân tộc Lào chủ yếu là làm nông nghiệp, chăn nuôi nên khô hanh, hạn hán là một trong những nỗi lo của họ về mùa màng thất bại, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mọi người. Bởi vậy thời điểm người dân Lào tổ chức lễ hội cầu mưa là vào những tháng cao điểm của mùa khô, nguồn nước cạn kiệt, khô hạn kéo dài.     Dân làng bắn tên lửa tự chế lên trời với niềm tin rằng những lời cầu nguyện của họ cho mưa dồi dào và một vụ mùa bội thu. Bắt đầu từ những tên lửa đơn giản làm từ tre nay đã phát triển thành những  tên lửa công phu được lắp trên giàn khung có bánh xe quay khổng lồ. Trước đây người ta kích hoạt quả pháo bằng việc châm ngòi trực tiếp, điều này rất nguy hiểm và đã từng gây thương tích. Ngày nay người ta dùng điện để kích hoạt quả pháo.  

     Nếu có dịp đến đất nước Triệu Voi vào mùa khô các bạn đừng bỏ lỡ lễ hội cầu mưa để hiểu thêm về phong tục, tập quán mang đậm bản sắc văn hóa của các bộ tộc Lào anh em.

Sau đây là một số hình ảnh người dân Lào bắn pháo làm lễ cầu mưa

 

          Người dân chuẩn bị pháo để bắn

                   Một quả đạn pháo đang rời khỏi bệ phóng

 

  

                        Một quả đạn pháo khác đang được bắn lên trời

                                                                                                    (Nguồn: Internet)

Đoàn lưu học sinh Lào K9 tiếng Việt đến thăm địa chỉ Đỏ trên quê hương Xô viết Nghệ An - Hà Tĩnh

Hướng đến kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngày 12- 15/5/2017 đoàn lưu học sinh Lào K9 tiếng Việt do cô Nguyễn Thị Thái Hòa làm trưởng đoàn đã hành hương về các địa chỉ Đỏ trên quê hương Xô viết Nghệ An - Hà Tĩnh.

Đoàn đã đến dâng hương tại Quảng trường Hồ Chí Minh, thăm Khu lưu niệm Hoàng Trù quê ngoại và Làng Sen quê nội bác Hồ kính yêu. Tại đây, đoàn học sinh để nghe các cô thuyết minh nói về thân thế, sự nghiệp và cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chính Minh vĩ đại.

Các em còn được đến tham quan tại biển Cửa Lò, một bãi biển đẹp của tỉnh Nghệ An. Các em đã được vui chơi và thỏa sức chụp ảnh, lưu lại những kỷ niệm đẹp trong thời gian tham gia học tập Tiếng Việt. Sau đó, đoàn cũng đã đến thăm khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du – danh nhân văn hóa thế giới. Ở đây các em Lưu học sinh Lào đã được tìm hiểu về các tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du, đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều.

Và cũng trong cuộc hành hương đầy ý nghĩa này, đoàn đã tới thăm Khu di tích Quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc là điểm giao thông quan trọng, mạch máu chi viện của hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Đây là nơi hàng trăm chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong đã ngã xuống để bảo đảm cho giao thông Bắc Nam được thông suốt. Đặc biệt, sự hy sinh của 10 cô gái ở tuổi đôi mươi tại Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành bất tử, là biểu tượng tuyệt vời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay và mai sau.

Tại đây Đoàn được xem phim tư liệu, đến thắp hương tưởng niệm, tri ân các Anh hùng thanh niên xung phong toàn quốc, dâng hương, dâng hoa lên 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Các cô giáo và các em Lưu học sinh Lào khoa Tiếng Việt đã kính cẩn nghiêng mình cầu nguyện cho anh linh các bậc anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam mãi mãi được siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng.

Chuyến tham quan thực tế, tìm về các địa chỉ đỏ, di tích lịch sử ở Nghệ An – Hà Tĩnh thật sự là một cuộc hành hương đầy ý nghĩa. Chuyến đi đã góp phần bổ sung kiến thức về lịch sử, giúp các em Lưu học sinh Lào hiểu hơn về công cuộc đấu tranh hào hùng của dân tộc Việt Nam, để các em phấn đấu, học tập theo con đường mà Đảng và nhân dân hai nước đã lựa chọn.

 

Đến với bài thơ hay "Đột nhiên thương vợ" của Thái Bá Tân

 

             Đột nhiên chồng thương vợ

                                        Đang lúi húi nấu ăn

     Muốn ôm hôn âu yếm

   Thế mà cứ ngại ngần

 

Muốn nói câu gì đó

     Thật dịu dàng, thật hay

    Lần nữa lại ngần ngại

  Vì sợ giống thằng Tây

 

                                                 Thế đấy, ta là thế

      Các ông chồng Việt Nam

   Cái việc đáng làm nhất

      Cuối cùng lại không làm

                                    Báo Tuổi trẻ, 6/3-2015

LỜI BÌNH

Vợ chồng thương yêu nhau diễn ra tự nhiên, thường xuyên, không  gián đoạn, sao ở đây  lại có chuyện “đột nhiên” - bỗng chốc, bất ngờ, bất thình lình thương vợ? Không phải vô ơn, tệ bạc, nhưng do quá mê mải làm ăn, lại quen được sống trong sự yêu chiều của vợ mà  sinh ra vô tâm, rồi dần quên đi. Chỉ tạm thời quên thôi, chứ “ bầu máu nóng” thương vợ thì vẫn còn đây.

 Sự tình diễn ra như một vở hài kịch ngắn, dạng kịch bản văn học. Sân khấu là nơi phòng bếp, chỉ có hai nhân vật: chồng và vợ. Vợ thì “Đang lúi húi nấu ăn”; chồng thì ngồi… nhìn ngắm, suy ngẫm và xúc cảm. Ngôn ngữ và hành động kịch diễn ra từ nội tâm. Bất chợt để ý, chồng  liền nổi cảm hứng thi sĩ như hồi đang yêu, bèn muốn có một hành vi âu yếm ngọt ngào với vợ. Từ “lúi húi” diễn tả việc làm vừa chăm chỉ vừa tỉ mẩn, thật dễ thương…Kể ra lúc này, nếu chồng cùng “lúi húi”, tham gia tí chút, rồi có thể vừa làm vừa hát, hoặc thổi sáo miệng mấy câu, chẳng hạn: “Cuộc đời vẫn đẹp sao/ tình yêu vẫn đẹp sao…” thì đời cũng…tỏa hương lắm đấy! Nhưng theo thói quen của bao ngày, chồng đã không làm như thế .

Hình ảnh người vợ trong lúc nấu ăn không chỉ dễ thương mà còn… rất đẹp, có duyên và đáng yêu. Cái ý định “Muốn ôm hôn âu yếm”, để bộc lộ tình  thương cụ thể, là  một cử chỉ đẹp, cũng nên lắm chứ. Nụ hôn lúc này có nhiều ý nghĩa lắm. Thế mà “cứ ngại ngần”, không thể nào thực hiện được. Đành nhận thua 0-1. Thôi thì  chân tay đã không “nhúc nhích” nổi thì cứ theo câu thành ngữ “Mồm miệng đỡ chân tay”, hãy “nói câu gì đó/ Thật dịu dàng thật hay” với nàng. Thiếu gì câu, chẳng hạn cứ phương châm “Em có tài nấu nướng, anh có tài ngợi khen” (XD), cũng là cách chân thành, tế nhị tỏ lòng yêu thương và lòng biết ơn về công lao to lớn của vợ cứ ngày ngày vất vả, chăm chút từng bận ăn cơm ngon canh ngọt cho gia đình. Trời đã cho cái “tài” sao không biết phát huy? Thế mà rồi “Lần nữa lại ngần ngại”, không nói nổi được một câu nào…! Lại thua thêm lần nữa, 0-2. Từ “ngại ngần”“ngần ngại” đồng nghĩa tuyệt đối, cho thấy sự e dè, sợ sệt  có lực cản ghê gớm. Thua ai vậy? Không thua ai cả, mà là thua… chính mình!

Thật  tiếc, chồng không thể ghi điểm trước người vợ, vốn giàu lòng bao dung và nhạy cảm CÁI ĐẸP. Giá mà vừa hôn vừa thì nói tuyệt vời biết mấy! Động viên đúng lúc, tỏ ra mình biết điều, sẽ làm cho vợ phấn chấn, giữ được lâu bền sự  trẻ trung, xinh đẹp; tình yêu được lãng mạn hóa, được thăng hoa, hạnh phúc  bội phần. (Các nhà khoa học cho biết, cứ mỗi nụ hôn, tăng thêm được hơn 10gy tuổi thọ!). Chuyện tưởng chừng nhỏ, nhỏ  như…con kiến,  thế mà thành ra “khó khăn thách thức”, không thể thắng nổi mình. Thời đang yêu đã  hôn nhiều và nói  nhiêu câu hay lắm kia mà… “Nét đẹp truyền thống” đã đi vào quên lãng. Chỉ biết biện hộ“Vì sợ giống thằng Tây” . Đỉnh điểm kịch tính hài. Nực cười, vì nói đến Tây là nói đến người Âu- Mĩ, họ thông minh, tài giỏi, văn minh đi trước mình hàng mấy trăm năm. Họ cực kì quý trọng phụ nữ, đối với vợ thì “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” và hôn vợ không biết chán, cho mãi đến già , “Đã hôn rồi, hôn lại/ Hôn đến mãi muôn đời” (Xuân Diệu). “Bạn khôn phải học” (Phan Bội Châu), sao lại sợ mình giống người ta? Chẳng lẽ đi học cho giống bọn người xấu xí, nòi con cháu Tào Tháo gian hùng ? Định kiến, nhút nhát, sợ sệt như  thấm vào huyết quản. Nghĩ ra trong lòng mà không dám nói ra, không dám hành động. Cảm hứng tính hài đã  song hành cùng tính bi. Bên trong cái vỏ hài kịch dí dỏm là bi kịch, là cả một nỗi niềm. Thương vợ đã không trọn thì chỉ biết xót xa thương mình kém cỏi mà thôi. Hỏi “hùng tâm tráng chí” của đàn ông đâu rồi? Nhưng nói ra được điều đó kế cũng đã là bản lĩnh, biết tự trào, biết xấu hổ.

Tứ thơ và nội dung chủ đề được nâng lên bằng ẩn dụ kép, không còn là chuyện nơi buồng the, bếp núc của gia đình nữa, mà rộng ra là xã hội. Nếu cho nói vậy là suy diễn, ta thử chữa lại hai câu cuối: “Thế đấy, ta là thế/ Các ông chồng Việt Nam/ Lúc cần hôn vợ nhất/ Cuối cùng lại không hôn”. Thêm được chất hài mà chất thơ đã giảm đi nhiều lắm. Thơ còn muốn nói tới một điều lớn lao hơn. Ai chẳng biết thiên chức của đàn ông “Tiên tề gia, hậu trị quốc”, “Đàn ông sinh ra là để làm điều vĩ đại”. “Cái việc cần làm nhất” không chỉ là việc trong nhà mà rộng ra là việc làng, việc nước. Việc của “quốc gia đai sự” mà  cứ  ngại ngần, ngần ngại, sợ này sợ nọ để “Cuối cùng lại không làm”, thì tránh sao khỏi hai chữ  bac nhược và ươn hèn?

Mới đọc qua, cứ ngỡ nhà thơ Thái Bá Tân viết theo tài “khẩu thơ” của mình, giống như vè 5 tiếng của dân ca Xứ Nghệ, quê hương ông; thơ chỉ kể chuyện hài một cách thật thà, vui vẻ, hồn nhiên. Đọc kĩ ra mới biết, đây là kiểu thật thà khôn khéo, sâu sắc đến là cao thủ!

                                                                                         Phạm Văn Chữ