foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt
foto1
Khoa Tiếng Việt

+(084)0393.885.133
khoatiengviet@htu.edu.vn
Liên hệ



Sự kiện sắp diễn ra

Không có sự kiện tìm thấy

 

Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng là Campuchia và Thái Lan: cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, ẩm thực lại mang những phong cách đặc trưng rất riêng.

Người Lào ăn gạo là chính; các món ăn có đặc điểm là dùng những gia vị như gừng, me, lá chanh và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính trong các món ăn hầu hết đều có rất nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối chua, ớt sa tế, ớt hầm, ớt luộc… Món ăn tiêu biểu của người Lào là sự pha trộn giữa cay và ngọt, được trung hòa them thảo  mộc. Mắm cá (pa dek) và mắm Cheo gồm da trâu, ớt nướng, tỏi nướng, riềng nướng, đường cùng nhiều gia vị thảo mộc trộn lẫn hoặc mắm Muok gồm lòng cá trộn ớt, sả, củ hành,… hầu như nhà nào cũng có và nước mắm (nám pla) được người Lào sử dụng hết sức phổ biến.

Ẩm thực Lào có những món được xem là đặc sản như: Món Tam Maak Hung còn gọi là nộm đu đủ gồm dưa muối, đu đủ, đậu đũa, cà dĩa giã rồi trộn chung gia vị ăn rất lạ. Ngoài Tam Maak Hung còn có các món như Thót mú đẹt điêu tôm dâm cung, cá nướng,…Mỗi món đều có các nguyên liệu khác như Lạp được làm bằng thịt heo, băm nhỏ, trộn gia vị Lào, ăn với xôi hoặc cơm, trộn chung với ớt cay, cá nướng được ướp muối ngoài da, khi nướng chín, da cá không cháy nhưng phủ trắng lớp muối, thịt cá không dính vào da, mùi thơm, chấm với nước “chẻo” (đặc chế từ ớt, tỏi, hành, mắm, muối, bột ngọt và chanh). Món ăn từ côn trùng là loại thức ăn giàu đạm được tìm thấy rất nhiều trên đất nước Campuchia Thái Lan và Lào. Người Lào cũng rất thích dùng côn trùng để chế biến nhiều món ăn. Từ dế cơm, trứng kiến đến con cà cuống, nhền nhệt trong các món chiên, xào, dồi đậu phộng đến hấp cơm hay ngâm giấm đều rất ngon. Đắt nhất vẫn là con cà cuống – một loại côn trùng có ích sống nhiều ở đồng ruộng Campuchia với hương vị thơm cay. Tuy nhiên, món ăn từ côn trùng của Lào lại ít món hơn người Thái Lan và ít phổ biến hơn.

Sự đa dạng trong cách ăn uống của người Lào tạo nên nét văn hóa đặc sắc của  đất nước Triệu Voi.

 

                                                                               

         Lào là đất nước có nền văn hóa vô cùng đa dạng và đặc sắc. Đi lễ chùa vào những ngày đầu năm mới là một nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của người dân Lào.  

Bức tranh đi lễ chùa ngày đầu năm là một bức tranh văn hóa rất đẹp và đậm đà bản sắc Lào, một đất nước mà đời sống tâm linh luôn được coi trọng. Đối với người Lào, họ quan niệm rằng: Chùa là nơi linh thiêng, là trường học cuộc đời, là điểm tổ chức lễ hội và cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của họ khi sang thế giới bên kia. Vì thế, nhân dân Lào rất sùng bái đạo Phật, xem đạo Phật  là quốc đạo. Ngay cả Tết người Lào (còn được gọi là Bunpimay) có nghĩa là “Hội té nước” diễn ra từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 hằng năm cũng chính là theo Phật lịch. Nghi lễ của họ cũng đậm chất Phật giáo.

 Mục đích người Lào đi chùa đầu năm không chỉ đơn thuần là cầu bình an, may mắn tốt lành cho gia đình, người thân và bạn bè của mình mà họ còn đến để tắm tượng Phật. Mỗi người dân đều có một xô nước thơm chuẩn bị sẵn từ những ngày trước, bên trong có các loại lá, loại hoa cỏ thơm và một cành lá để những tắm cho tượng. Để thực hiện nghi lễ đó có thể mua một xô nước thơm bày bán ngay tại lối vào chùa.

         Bước vào mỗi ngôi chùa ngày Tết, nghi lễ buộc chỉ tay không thể thiếu. Người Lào có trên tay nhiều sợi chỉ sắc mày thì càng nhiều phúc lộc trong năm mới. Sư thầy tại các chùa vừa buộc chỉ tay vừa lẩm bẩm đọc chú cầu bình an đến cho mọi người. Mọi người đến nơi đây, tùy vào tâm của mình mà công đức cho chùa.

         Đúng như tên gọi (tết té nước), dọc hai bên đường đi vào chùa, nam thanh nữ tú, trẻ già khách du lịch cũng chuẩn bị những xô nước, súng nước, vòi nước…Lễ hội  mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, thanh khiết hóa cuộc sống của con người. Vào những ngày này, mọi người thường té nước vào nhau để chúc phúc, cầu mong mưa thuận gió hoà, cầu cho một năm mới ấm no, hạnh phúc. Bởi thế mọi người đều ướt mình khi vào chùa, nhưng chẳng ai tức giận nổi nóng mà đều cảm thấy hạnh phúc, luôn miệng chúc lời tốt đẹp đầu năm. 

 Người Lào đã giữ gìn nét đẹp lễ chùa đầu năm như thế nào? Sự thanh tịnh, sự thân thiện, tình yêu thương là những nét đẹpvăn hóa khi đi chùa của người dân Lào. Vào sáng sớm của năm mới, du khách sẽ thấy hàng dài người dân Lào xuất hiện trong những ngôi chùa. Họ ý thức xếp hàng thảnh thơi, chậm rãi bước vào làm lễ, chẳng có cảnh chen lấn, xô đẩy đặt tiền, đặt lễ như ở một số nơi. Trên tay của họ là những đài hoa được kết từ hoa vạn thọ lá chúa xếp thành và vài ba cây nến... dâng lên khấn Phật.  Khi vào chùa họ không được huyên náo, nói chuyện gây ồn ào. Với những người bán hàng tại các ngôi chùa nơi đây, sẽ không có chuyện mời chào du khách. Người dân nơi đây đây lên chùa thành tâm cầu bình an và khi trở lên trong sự tin tưởng và cầu phúc từ sư thầy. có thể nói, gười Lào đi lễ chùa đầu năm không đơn giản chỉ để ước nguyện mà đó còn là khoảnh khắc để con người hòa mình vào chốn tâm linh cũng như bỏ lại phía sau bao vất vả, lo toan trong cuộc mưu sinh thường nhật.

Lễ chùa đầu xuân đã trở thành thói quen, thành nét văn hóa tâm linh của tất cả người Lào. Những ngôi chùa chính là nơi gửi gắm tâm linh, mang trong mình bao nét văn hóa của xứ sở Triệu Voi. Có những điều giản dị những vô cùng thiêng liêng đến từ việc lễ chùa đầu năm. Vì  ý nghĩa cao cả này mà bất cứ ai cũng trân trọng phong tục cổ truyền của dân tộc và lấy việc lễ chùa làm khởi điểm để đón chào một năm mới đầy may mắn và tài lộc.

 

 

Lào là một đất nước có rất nhiều lễ hội truyền thống. Lễ hội được xem như là một phần cuộc sống của người dân nơi đây. Vì thế hầu như tháng nào trong năm cũng có các lễ hội diễn ra ở chùa hoặc ở bản song tháng ba là tháng có nhiều lễ hội độc đáo.

“Boun khẩu chì” là một trong những lễ hội truyền thống của người dân Lào được các dân tộc kế thừa và thực hiện từ xưa đến nay. “Khẩu chì” được làm từ cơm nếp, vắt thành cái rồi nướng bằng chín bằng lửa. Trước đây lễ hội này thường được tổ chức vào vào tháng ba khi trăng lên ( từ mồng 1- ngày 15) hoặc vào ngày trăng khuyết ( từ ngày 16 – ngày 30). Vì thế “Boun Khẩu chì” còn có tên gọi là lễ hội tháng ba. Tháng ba là tháng mà người dân đã xong việc đồng áng, mùa màng đã thu hoạch xong. Lúc này người dân mới cùng nhau tổ chức làm “khẩu chì” để dâng lên các nhà sư.

Trước ngày tổ chức “Boun khẩu chì” một ngày từ sáng sớm họ đã phải chuẩn bị một số đồ dùng như: than, củi, que xiên để ngày hôm sau sẽ nhen lửa để nướng “ khẩu chì” từ sáng sớm. Trước khi nướng họ sẽ nhóm lửa thành đống lửa rồi cơm nếp được nắm thành từng nắm nhỏ rắc muối đều, xiên bằng xiên tre và đem nướng trên than hồng cho vàng rộm. Sau đó phết trứng  và mỡ lên và đem nướng lại cho đến khi trứng chín là được. Có một số nơi còn phết nước mía vào cơm để nướng.

Sau khi nướng “khẩu chì” xong người ta bày ra mâm cùng với hoa quả, bánh kẹo, nước ngọt và một số đồ  khác nữa để  dâng lên nhà sư ở chùa và mọi người cùng nhau ăn với mong muốn được ấm no hạnh phúc. Việc làm này xem như vừa được vui vẻ, đoàn kết vừa được phúc đức. Trước đây theo tục lệ của địa phương sẽ tổ chức lễ hội lớn tụ tập rất vui vẻ có các ca sĩ mua hát thâu đêm. Tất cả già trẻ, trai gái, lớn nhỏ đều tập trung nướng “khẩu chì” ở chùa hoặc ở giữa đình làng tùy theo người già quy định làm ở đâu. Hiện nay phong tục tổ chức “Boun Khẩu chì” đang mai một dần chỉ còn lại ở một số địa phương.

Ngoài “ Boun Khẩu chì” thì tháng 3 còn có lễ hội nữa là “Boun Ma khạ bu sa” được tỏ chức vào giữa tháng 3 âm lịch. Có thể coi đây là một lễ hội truyền thống rất quan trọng của Phật giáo, các phật tử gọi lễ hội này là “Boun Ma kha bu sa” hay còn gọi là lê hội rằm tháng ba. Người Lào tổ chức lễ hội này rất chu đáo để tưởng nhớ tới sự việc quan trọng bên Phật giáo và cũng là dịp để cho các tăng ni Phật giáo nhắc nhở lại cho các phật tử về tấm gương của đức Phật.

Vào ngày rằm tháng ba người dân dậy từ sáng sớm đi dâng cơm cho các nhà sư ở các chùa, buổi chiều tụ họp ở chùa cùng nhau lạy Phật và nghe lời dạy bảo của đức Phật về những điều nên và không nên làm trong cuộc sống. Vào buổi tối ở một số chùa các phật tử đưa hương, hoa, nến đến chùa để làm nghi lễ rước nến đi vòng quanh chùa, suốt thời gian đi vòng quanh chùa mọi người cùng tưởng nhớ đến đức Phật cho đến khi đi đủ ba vòng thì lấy hương, hoa, nến đi cắm vào các bàn thờ ở chùa đó xong là kết thúc nghi lễ.

Lễ hội tháng ba nói riêng và lễ hội truyền thống nói chung ở Lào chính là loại hình sinh hoạt văn hóa, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, nhằm làm cho cuộc sống tinh thần của người dân ngày càng phong phú và trở nên gắn bó, đoàn kết hơn.

 

 

          Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luân chuyển. Con người cũng thay đổi với thời gian. Giữa cuộc sống bộn bề, hối hả, đôi khi ta như lãng quên đi tất cả, nhưng đôi khi ta lại băn khoăn, suy ngẫm, giật mình sững sờ trước những vẻ đẹp của người phụ nữ: đó là một tâm hồn thuần khiết, một nhân cách thanh cao, một vẻ đẹp trí tuệ, hay một sự duyên dáng, đáng yêu, một cử chỉ tinh tế... làm ta thổn thức nhớ mãi, không nguôi. Đó chính là vẻ đẹp vượt thời gian! A.Xmít đã có lý khi cho rằng: "Trước phái đẹp và âm nhạc, thời gian trở nên vô nghĩa''!

            Trong bất cứ không gian sống và làm việc nào nếu thiếu bóng dáng của phái đẹp chẳng khác nào mùa xuân thiếu hoa. Vì thế, sự xuất hiện của người phụ nữ ở thời đại nào cũng luôn được chú ý, quan tâm. Trước đây, vẻ đẹp của người phụ nữ thường bị hạn chế bởi những tiêu chuẩn khắt khe về hình thức, đạo lý ( tam tòng, tứ đức...). Trong một thời gian dài, điều đó vô hình đã ảnh hưởng đến sự tự tin của người phụ nữ và tạo cho họ những mặc cảm về sự thiếu hoàn thiện của bản thân mình. Ngày nay- vớí thời đại mà khoa học, kỹ thuật phát triển như vũ bão, thì mọi suy nghĩ nhận thức của con người  đều có thay đổi nhất định để phù hợp với cuộc sống với thời đại. Vì vậy, có nhiều cách đánh giá, nhìn nhận về vẻ đẹp của người phụ nữ nhưng đều có sự thống nhất  về những tiêu chuẩn quan trọng làm nên vẻ đẹp toàn diện của người phụ nữ hiện đại: kiến thức, nghề nghiệp, quan niệm sống, hình thức, kỹ năng sống, sự tự tin, nét nữ tính, duyên dáng...Thật khó hình dung đầy đủ bức tranh về người phụ nữ thời hiện đại.

            Điểm nỗi bật ở vẻ đẹp của phụ nữ hiện đại là có trí tuệ, có kiến thức. Phụ nữ hiện đại được tiếp cận với nhiều nguồn tri thức, có nhiều cơ hội để học hành, nâng cao hiểu biết và đã thể hiện thành công trong rất nhiều lĩnh vực. Dường như, trong môi trường xã hội hiện đại người phụ nữ khám phá được năng lực bản thân và phát huy tốt hơn những khả năng của mình. Với lần gặp đầu tiên, người phụ nữ đẹp về hình thức để lại ấn tượng rất tốt, nhưng để có dấu ấn, khẳng định thành công trong công việc còn phụ thuộc vào kiến thức, khả năng và đặc biệt là kỹ năng sống của bản thân. Nhà thơ Phan Huyền Thư đã chia sẻ với một điều quan trọng: " Hành trang cần thiết nhất của phụ nữ hiện đại là kỹ năng sống, kỹ năng vào đời. Có kỹ năng sống, tức là bạn đã biết cách tự bảo vệ mình, bạn biết cách sống văn minh. Nếu bạn không có kỹ năng sống, bạn có nhiều nguy cơ bị tổn thương".           

            Người phụ nữ là đề tài muôn thuở của thi ca, hội họa, và nhiều loại hình nghệ thuật khác. Họ khơi nguồn cảm hứng bất tận cho rất nhiều người có tâm hồn nhạy cảm, những nhà sáng tác tài ba. Bởi lẽ, vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ được thể hiện qua dung mạo bên ngoài mà còn bừng sáng ở tâm hồn. Nhà văn Victor Huygo từng nhận xét “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của tâm hồn người phụ nữ”. Người phụ nữ hiện đại không thể không có vẻ đẹp nữ tính. Nữ tính cũng chính là cái duyên, là vẻ đẹp bên trong tỏa sáng ra bên ngoài. Sắc đẹp là trời cho nhưng cái duyên thì không phải người phụ nữ nào cũng có được. Sự dịu dàng, nữ tính là nhan sắc khó phai tàn. Khi khoảng cách về sự bình đẳng của nam và nữ ngày càng thu hẹp thì phẩm chất này ngày càng được coi trọng. Sự nữ tính, sự mềm mại, dịu dàng, kín đáo mới là thế mạnh của phái nữ thể hiện qua lời ăn tiếng nói, qua hành vi ứng xử, qua trang phục áo quần. Trong giao tiếp, họ biết khiêm tốn đúng mức, biết chia sẻ đồng cảm với người khác, đồng thời không vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh, mà họ quan sát và học hỏi những điều tốt đẹp từ mọi người.

            Người phụ nữ hiện đại không có nghĩa lúc nào cũng bận rộn, vội vàng, mặt nhợt nhạt, tóc bù xù, áo quần lếch thếch vì " không có thời gian", vì"cá tính", hay vì "hiện đại". Người phụ nữ ngày nay phải biết kết hợp hài hòa giữa tâm hồn lẫn hình thức, giữa nữ tính và cá tính, giữa bản thân và xã hội. Người phụ nữ phải biết sắp xếp công việc gia đình và xã hội một cách hợp lí, khoa học để có một khoảng thời gian chăm sóc bản thân, chú ý đến trang phuc, cách trang điểm.. để tạo ra sự thiện cảm, gần gũi, tôn trọng đối tượng giao tiếp. Hơn nữa, người phụ nữ làm đẹp cho mình chính là làm đẹp cho xã hội!

            Người phụ nữ hiện đại rất chú ý đến cảm xúc của bản thân mình, họ không để cho cuộc sống vô vị, nhàm chán, luôn tạo ra những cảm xúc mới mẻ, làm cho cuộc sống thêm phần phong phú, sinh động. Họ tìm niềm vui trong sách, báo, mạng; trong mua sắm, họ gặp gỡ chuyện trò với bạn bè, xả street ở quán coffe...những khoảng khắc đó làm thay đổi cảm xúc thường ngày. Trong tình yêu, hạnh phúc họ tôn trọng cảm xúc của mình, dám bứt phá, khẳng định cái tôi một cách rõ ràng, mạnh mẽ. Điều quan trọng hơn, họ không để cho cảm xúc phiêu lưu, lạc hướng mà họ biết cách" tiết chế" cảm xúc của mình... Và như vậy, phụ nữ muôn đời thật là khó hiểu!

            Chỉ bấy nhiêu thôi, nhưng đó là cả một gánh nặng trên "hai vai gầy" của người phụ nữ hiện đại. Các đấng mày râu hãy quan tâm, chia sẻ và yêu thương hơn nữa những người phụ nữ bên mình!    

 

 

 

 

 

“Mùa chim” – Tập thơ hay viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú

Bạn đọc không chỉ biết đến Nguyễn Ngọc Phú – một cây bút thẩm bình thơ sắc sảo mà còn ấn tượng bởi sự thành công của anh qua những tập thơ, những trường ca giàu tâm trạng, lắng sâu suy tưởng và khắc khoải bao nỗi niềm nhân tình thế thái. Gần đây với sự ra mắt tập thơ “Mùa chim”, Nguyễn Ngọc Phú lại gây bất ngờ về sự hóa thân vào thế giới trẻ thơ hồn nhiên, trong sáng, diệu kì như anh đã từng khao khát “Mai ngày tìm lại cánh đồng tuổi thơ/ Tuổi gập vào lưng, cau làm gậy chống/ Ngước lên trời cao nhìn vào đất thẳm/ Lắng nghe tiếng dế ăm ắp hồn mình…” (Cánh đồng tuổi thơ).

Quả thật, không phải ai cũng có khả năng viết cho trẻ bằng con mắt trẻ. Người sáng tác cho thiếu nhi phải thực sự hòa nhập với cuộc sống trẻ thơ, sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng và mang lại sự thành công cho tác phẩm. Chính vì sống và viết bằng trái tim yêu trẻ đã giúp Nguyễn Ngọc Phú viết nên “những bài thơ nho nhỏ” như “ những ô cửa xinh xinh” song lại mở ra những ô trời xanh để các em đón thanh âm, hương sắc của cuộc sống đất trời, vạn vật.

“Mùa chim” dành cho lứa tuổi nhi đồng vì vậy nhân vật chủ yếu là các loài vật, cỏ cây, đồ vật... rất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của các em. Thực ra, những nhân vật này hiện diện trong hầu hết các sáng tác của những nhà thơ viết cho thiếu nhi và có không ít người đã khẳng định được tài năng của mình. Thế nhưng với sự hòa quyện giữa mạch thơ của truyền thống và thế giới tuổi thơ tươi mới, “Mùa chim” vẫn có sức lôi cuốn và tạo được dấu ấn riêng trong lòng bạn đọc.

Trước hết nói về phương diện giá trị nội dung. Võ Quảng - nhà thơ thân thuộc của các bạn nhỏ từng cho rằng “Người viết cho thiếu nhi là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo”. Điều đó đã chứng tỏ ông rất đề cao chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi. Trong “Mùa chim”, chức năng này có khi lắng đọng ở những câu cuối, hoặc đoạn cuối bài thơ song phần lớn thường được đan cài một cách kín đáo vào cảm xúc, hình tượng và chức năng thẫm mĩ…

Tập thơ là một vốn tài liệu sống động về thế giới tự nhiên. Bằng khả năng quan sát tinh tế, sự hiểu biết sâu sắc và cách thể hiện sinh động, sáng tạo, Nguyễn Ngọc Phú đã dẫn các em đến với nhiều không gian quen thuộc nhưng lại khám phá bao điều vô cùng mới lạ, hấp dẫn. Thế giới bỗng trở nên mới lạ, kì thú từ chính những điều gần gũi, thân thuộc xung quanh chúng ta. Từ những kinh nghiệm dân gian, tác giả đã giải mã sự phản ứng của cỏ cây, loài vật trước sự chuyển mình của đất trời bằng hình ảnh thơ quen thuộc nhưng giàu nhịp điệu, cảm xúc giúp các em dễ nhớ, dễ nhận biết các hiện tượng tự nhiên để ứng dụng vào cuộc sống:“Trời đang lặng gió/ Mây nổi tê tê/ Khớp xương bà nhức/ Hình như bão về// Bắt đầu Kiến Lửa/ Gánh gió leo rào/ Chuồn Chuồn rối rít/ Từng đàn lượn chao/Em tìm mắt bão/ Dấu ở chỗ nào/ mà sao cây cỏ/ Biết trước bão vào” (Mắt bão). Ngòi bút Nguyễn Ngọc Phú giống như kính vạn hoa khi miêu tả thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá… đáp ứng sở thích ưa  khám phá, hiểu biết của tuổi thơ. Thật thú vị khi chúng ta chiêm ngưỡng những hình ảnh phác họa sinh động về các bộ trang phục đa phong cách, đa màu sắc, kiểu dáng của con người và vạn vật:“Cơn mưa mặc áo tơi/ Bằng đám mây màu xám/ Gặp ngày nắng trải phơi/ Áo tơi thành lụa trắng// Mưa bóng mây áo ngắn/ Cơn mưa bão áo dày/ Mưa ngâu thì áo mỏng/ Áo dài mưa bụi bay// Áo khoác hờ qua vai/ Cơn mưa rào đỏng đảnh/ Bỗng rùng mình chợt tạnh/ Quên cả cúc không cài”(Cơn mưa mặc áo). “Cây mặc áo lá/ Mẹ mặc áo tơi/ Mây mặc áo gió/ Choàng xanh da trời/ Quả đồi mặc cỏ/ Cánh đồng mặc rơm/ Dòng sông mặc nước/ Thuyền trôi mặc nước/ Em ngồi xâu chỉ/ Bà mặc tuổi già” (Áo). Đến với khu vườn của tuổi thơ trong “Mùa chim”, tâm hồn như được rộng mở để giao hòa với âm thanh, màu sắc, hương thơm của muôn vàn cỏ cây, hoa lá. Các loài quả, loài hoa như đang  bừng lên sự sống, ngào ngạt tỏa hương, khoe sắc đã phả vào cảm xúc người đọc tình yêu thiên nhiên tha thiết: “Quả Hồng như chiếc đèn lồng/ Xù gai quả Mít, bềnh bồng bóng bay/ Quả Na mắt nhắm ngủ ngày/ Quả Dưa lăn lóc, sum vầy Chuối Tiêu/ Chôm Chôm là quả lắm điều/ Thị vàng không ngủ cứ kêu: nóng lòng” (Quả); “Hoa Hồng ủ nắng vào trong/ Dạ Hương ngày ngủ đêm vòng tảo hương/ Mặt trời mọc phía Hướng Dương/ Hoa Quỳnh thức giấc trong vườn nửa đêm/ Mười giờ đến hẹ lại lên/ Ước gì Dâm Bụt phép tiên hiện về”(Hoa)… Tất cả như đang chào đón, mời gọi. Mùa hạ rộn rã với dàn hợp xướng ve sầu, bản hòa tấu đồng ca của lũ Dế; mùa thu thơm nồng hương quả; mùa đông “Cải cuộn tròn khoe rét/Vườn thêm nhạt cánh hoa” (Rét), “Nước nổi màu bồ hóng/ Không nấu vẫn bốc hơi/ Hay mùa đông giấu lửa/ Sau màu tro da trời” (Mùa đông)… Đọc những bài thơ anh viết về thiên nhiên tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của nhà thơ Phạm Hổ khi bàn về sáng tác thơ cho thiếu nhi “Thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp, bằng chính cái đẹp thiên nhiên dạy cho ta yêu cái đẹp, bằng chính sự phong phú, thiên nhiên gợi cho ta nên có cuộc sống phong phú về vật chất và tinh thần”.

    Qua nhiều bài thơ nghộ nghĩnh, vui tươi mô tả cuộc sống nhộn nhịp như ngày hội của loài vật, tác giả muốn các em được hòa mình vào không khí, niềm say mê lao động để thêm yêu cuộc sống. Đó là chị cào cào  may áo (Cào cào may áo), chú chuồn kim xâu chỉ (Hoa nắng), chị cua càng  thổi xôi …/ Tép chuyên nhóm lửa/ Bà Sam dựng nhà/ Tôm đi chợ cá/ Cậu Ốc pha trà…(Cua càng thổi xôi),  “Thập thò Chuồn Lửa/ Nhóm bếp cho bà/ Chuồn Voi cõng bão/ Qua mây mỡ gà// Nhóng nhánh Chuồn Ớt/ Nhấm khói cay cay/ Chuồn Kim thì bận/ Vá may suốt ngày// Lim dim Chuồn Đá/ Ngủ gật bờ ao/ Giật mình tỉnh giấc/ Gánh cơn mưa rào.”(Chuồn chuồn), “Cỏ lác thì dệt chiếu/ Cỏ may ham thêu thùa/ Cỏ gấu làm vị thuốc (Cỏ); Mùa gặt chim bay về/ Lượn theo vòng lưỡi hái/ Tìm hạt lép trong rơm/ Nhặt hạt vàng rơi vãi…/Nhặt những gì bỏ sót/ Sau no ấm mùa màng (Mùa chim)….

  Nhiều học bài học toát lên từ hình tượng thơ giàu ẩn dụ, biểu trưng, liên tưởng gợi cho các em nhiều suy nghĩ để ngày một lớn khôn. Từ hình ảnh “Một mình - một bóng/ Nghiêng ngả lượn vòng/ Lái thuyền lướt thẳng/ Không hề uốn cong” các em cảm nhận được sự mạnh mẽ, kiên cường của cây buồm khi lái con thuyền vượt qua bao sóng gió giống như những người dân lao động bền bỉ của làng biển. Từ những hình ảnh hàm ẩn nhiều ý nghĩa: “Cây rơm không có lá/ Nở một giấc mơ vàng/ Cọng rơm gầy gò quá/ Nuôi chín bao mùa màng/ Dáng cây rơm nghĩ ngợi/ Bao vất vả đi qua/ Cho mùi cơm gạo mới/ Thơm tỏa lan trước nhà/ Ngày ủ bóng cho gà/ Đêm quây thành nệm ấm/ Cho giấc mơ của em/ Thơm mật ong đồng ruộng/ Đầu đội chiếc nồi đất/ Xương sống: cọc - tre - vườn/ Cây rơm nuôi bếp lửa/ Qua bao mùa bão dông” (Cây rơm), trẻ thơ nhận thức được muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc phải trải qua bao vất vả, nhọc nhằn, siêng năng, chịu khó… để rồi càng thêm yêu quý, trân trọng người dân lao động. Từ những cánh võng tre, võng đay, võng dù gắn bó với tuổi thơ của bé, gắn với tình yêu thương của ông bà, cha mẹ đã gợi các em liên tưởng đến hình dáng những chiếc võng khác trong thế giới vạn vật để rồi đặt ra câu hỏi vừa bất ngờ vừa xúc động“Bao nhiêu cánh võng/ Đều mắc hai đầu/ Lưng bà võng xuống/ Biết mắc vào đâu” (Võng). Bao cảm xúc và suy ngẫm lắng sâu ở cách kết thúc bỏ ngỏ này. Câu hỏi sẽ được trả lời bằng chính tấm lòng, tình yêu thương các em dành cho người bà yêu quý của mình.

Với tập thơ “Mùa chim”, Nguyễn Ngọc Phú đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong nghệ thuật thể hiện phù hợp với tâm lí trẻ thơ.

Trẻ em vốn có khả năng kì diệu là luôn diệu kì hóa thế giới xung quanh. Vì vậy, thơ Nguyễn Ngọc Phú đã đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của chính con người. Các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, tượng trưng… được tác giả sử dụng tối đa và tạo nên không ít sự độc đáo, mới mẻ. Mỗi sự vật bình thường, vô tri, vô giác đã được nhà thơ thổi vào hơi thở của sự sống của con người lấp lánh vẻ đẹp lung linh, kì diệu, gợi mở trí tưởng tượng của trẻ thơ.              

Đó là thế giới động vật, thực vật được nhà thơ gọi bằng những cái tên hết sức thân mật, gần gũi, thân thiết với trẻ như ông Dã Tràng, bà Sam, cậu Ốc, chú Chuồn Kim, chàng Châu Chấu, chị Cào Cào, cô Cua Càng... Đặc biệt ở những bài thơ có sự sáng tạo ở phương diện ngôn từ như Hoa nắng, Cơn mưa mặc áo, Quả đêm, Quả trăng, …có nhiều hình ảnh được "lạ hóa" trong những liên tưởng bất ngờ, thú vị mở ra không gian tươi mới, hấp dẫn, ngộ nghĩnh, sinh động tràn âm thanh, hương thơm và màu sắc chỉ cảm thấy mà không sao chạm được, nhìn được: “Nắng sàng qua mắt lá/ Chấp chới nở thành hoa/ Chú Chuồn kim xâu chỉ/ Thêu nắng lên mái nhà” (Hoa nắng); “Mầm nắng vươn tí tách/ Khuông nhạc hóa rãnh cày/ Nắng như gà mổ thóc/ Em nhặt về ươm cây” (Tuổi cây);  “Mỗi tháng một rằm/ Trăng tròn má bé/ (Gọi Trăng bằng ông/ Bé thường thích thế!)/ Đầu tháng giống lá/ Cuối tháng trổ mầm…/ Trung thu phá cỗ/ Nhìn lên vòm trời/ Quả Trăng nhả hạt/ Thành ngàn Sao rơi” (Quả Trăng); “ Chùm đèn trong phố nhỏ/ Chín không bao giờ mềm/ Quả thức khi em ngủ/ Mới gọi là: Quả đêm” (Quả đêm).  Có đôi khi một chớp lóe trong khoảnh khắc sáng tạo đã giúp Nguyễn Ngọc Phú chạm khắc hình dáng, tư thế, hoạt động của người dân lao động miền biển bằng tạo hình bằng ngữ nghĩa rất thú vị“Giống như một chú Cào Cào/ Người đi cà kheo dưới nước/ Chiếc vó thùng thình vớt ruốc/ Hình như vớt cả chiều lên” (Biển). Và còn có thể kể thêm rất nhiều những bài thơ sử dụng các biện pháp tu từ một cách khéo léo, tinh tế vừa gần gũi, thân quen, vừa mới lạ, bất ngờ như Biển và mặt trời, Mùa đông, Cây rơm,… Đọc “Mùa chim”, chúng ta nhận thấy giữa thế giới trẻ thơ và thế giới muôn loài có một mối tương giao xúc cảm vừa kì lạ vừa đáng yêu biết bao. Có thể nói nhà thơ đã rất thành công khi nhập vai em bé để miêu tả  thiên nhiên vạn vật bằng các giác quan và trái tim yêu thương của mình.

Trong “Mùa chim”, hình thức hỏi - đáp xuất hiện khá nhiều như là một phương tiện nghệ thuật để nhà thơ phản ánh tâm lí, tâm hồn, tư duy và tình cảm của trẻ. Quan sát thế giới xung quanh, trẻ em vẫn thường đặt ra những câu hỏi vì sao, sao lại thế... thậm chí có những câu hỏi hết sức hồn nhiên, ngô nghê nhưng vẫn rất đáng yêu. Điều đó cũng thể hiện sự nắm bắt tinh tế những nét tính cách đặc trưng và hệ quả tất yếu của nhu cầu ham khám phá, hiểu biết ở lứa tuổi nhi đồng. Thực ra, hình thức hỏi - đáp không phải là sáng tạo riêng của Nguyễn Ngọc Phú bởi nó được sử dụng nhiều trong thơ viết cho thiếu nhi. Đóng góp của anh là ở chỗ đã sử dụng thành công để tạo ra những bài thơ hay và lồng chứa trong đó những thông điệp nghệ thuật :  Bà ơi sao cây Gạo/ Lại mọc giữa đồng ta/ Tháng ba hoa Gạo đỏ/ Rụng cánh vào phù sa/ -  Gạo không làm ra lúa/ Tỏa bóng rợp cánh đồng/ Che thợ cày thợ cấy/ Giữa nắng trưa oi nồng...”(Cây gạo)...  Ở tập thơ này, nhà thơ thường sử dụng một vế tạo câu hỏi, chỉ hỏi chứ không đáp. Đó là một dạng câu hỏi tu từ, một biện pháp nghệ thuật để tâm tình, trò chuyện, trao đổi để cùng các em khám phá bao điều bí ẩn, lí thú về tên gọi, đặc điểm, chức năng, hoạt động… của thế giới loài vật, cỏ cây: “Sao gọi là sao chổi/ Quét gì ở trên trời” (Sao); “Cỏ có tên cỏ Mật/ (Có nấu kẹo được không?) (Cỏ); “Quả cau có tai đâu/ Sao gọi là Cau điếc// Quả bí không nhọn sắc/ Lại gọi là Bí đao// Mèo có phải quả đâu/ Sao gọi là mèo mướp” (Hỏi);...  “Cá Chuồn có cánh đâu/ bay là là mặt nước/ …Cá Ngựa chẳng có bờm/ Ăn phù du thay cỏ/ Không biết hỏi: đâu đâu/ Vẫn gọi là cá Chó!/ Chẳng rù rì mờ tỏ/ Sao gọi là cá Ong/… Chọn bạn chơi thân thiết/ Sao lại gọi cá Lầm/ Mắt cá mọc ở chân/ Nhắc em đi khỏi lạc” ().  Ngọn đèn Đom Đóm kỳ lạ quá thôi/ Trong mưa càng sáng/ Nháy mắt liên hồi/ Bão to không tắt/ Nhấp nháy hàng mi/ Đom Đóm tài thật/ Hỏi thắp bằng gì? (Ngọn đèn Đom Đóm). Phải sống bằng chính cuộc sống của các em, phải suy nghĩ theo lối suy nghĩ của các em thì Nguyễn Ngọc Phú mới tạo ra được những câu hỏi ngỗ nghĩnh, trẻ thơ đến vậy. Có thể nói anh đã thổi vào những khúc đồng dao hơi thở mới đầy sáng tạo thú vị, hấp dẫn.  

  “Mùa chim” còn tạo được sự bất ngờ, hứng thú bởi những chi tiết hồn nhiên, ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, thông minh. Thật lí thú khi các phụ tùng của chiếc xe đạp bỗng biến thành bữa ăn ngon lành: “Nào bắt đầu rán bánh/ Mỡ phồng căng đáy nồi/ Bánh đựng bằng gì nhỉ?/ Đĩa đây rồi bạn ơi// Gắp hành bằng đũa nhé/ Thêm xúc xích ăn kèm/ Cá cứ kêu: chép! chép!/ Khô dầu là cháy nhem// Hoá ra chiếc xe đạp/ Bỗng biến thành bữa ăn/ Bạn ơi đừng sốt ruột/ Món cuối cùng là... tăm”(Bữa ăn: chiếc xe đạp).  Những thắc mắc hết sức tinh nghịch, ngộ nghĩnh “Tóc bà thì bạc trắng/ Sao tóc đèn lại đỏ/ Đèn kêu: Tớ ấm đầu!” (Tóc đèn);   “Ô hay ngọn lửa/ Kéo được tàu đi/ Về thăm bà ngoại/ Chẳng thấy nóng gì?” (Đi xe lửa); “Nước nổi màu bồ hóng/ Không nấu vẫn bốc hơi/ Hay mùa đông giấu lửa/ Sau màu tro da trời”(Mùa đông); tại sao mọi người vẫn thường gọi là ve sầu, nhưng  “...Dàn đồng ca mùa hạ/ Ve lĩnh xướng mở đầu/ Vít hoa vào thành quả/ Ve chẳng bao giờ sầu” (Ve sầu mùa hạ);…không chỉ cho thấy những phát hiện độc đáo của một trí tưởng tượng phong phú, mà còn thể hiện sự gắn bó và  yêu thương của tác giả dành cho trẻ thơ.

Mùa chim”  chính là vẻ đẹp tinh khiết, trong trẻo, hồn nhiên của thế giới trẻ thơ trong sự hòa điệu với thế giới tự nhiên lấp lánh muôn sắc màu. Không những thế, tập thơ còn là chiếc chìa khóa để mở rộng cánh cửa tâm hồn của những bạn đọc nhỏ tuổi, đồng thời mở ra cánh cửa “ngôi nhà tuổi thơ” trong kí ức người lớn. Phải khẳng định rằng tập thơ có rất nhiều câu thơ, bài thơ đã khơi mở, kích thích trí tưởng tượng, cảm xúc trong trẻo và gợi mở  nhiều bài học ý nghĩa cho thiếu nhi. Tuy nhiên, vẫn còn một số câu thơ ở trong một số ít bài thơ khiến người đọc có cảm giác tác giả đã đứng ngoài tuổi thơ để viết về tuổi thơ. Độc giả mong anh tiếp tục cuộc hành trình trở về tuổi thơ ở những tập thơ tiếp theo để phản ánh chân thực, sinh động, đa chiều hơn nữa cuộc sống của trẻ em hiện nay, đồng thời lồng vào đó những bài học nhân sinh nhẹ nhàng, tự nhiên, nhưng vô cùng thấm thía và sâu sắc. Chúng ta vẫn chờ đợi điều đó, song với sự hiện diện của “Mùa chim”, phải khẳng định rằng tập thơ không chỉ làm phong phú thêm thơ Nguyễn Ngọc Phú mà còn là sự đóng góp không nhỏ của anh vào mảng văn học thiếu nhi nói riêng và thơ ca Hà Tĩnh đương đại nói chung.

 

 

 

 

 

 

 

 



Copyright © 2019 Copyright Khoa Tiếng Việt - Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.