“Mùa chim” – Tập thơ hay viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú

“Mùa chim” – Tập thơ hay viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú

Bạn đọc không chỉ biết đến Nguyễn Ngọc Phú – một cây bút thẩm bình thơ sắc sảo mà còn ấn tượng bởi sự thành công của anh qua những tập thơ, những trường ca giàu tâm trạng, lắng sâu suy tưởng và khắc khoải bao nỗi niềm nhân tình thế thái. Gần đây với sự ra mắt tập thơ “Mùa chim”, Nguyễn Ngọc Phú lại gây bất ngờ về sự hóa thân vào thế giới trẻ thơ hồn nhiên, trong sáng, diệu kì như anh đã từng khao khát “Mai ngày tìm lại cánh đồng tuổi thơ/ Tuổi gập vào lưng, cau làm gậy chống/ Ngước lên trời cao nhìn vào đất thẳm/ Lắng nghe tiếng dế ăm ắp hồn mình…” (Cánh đồng tuổi thơ).

Quả thật, không phải ai cũng có khả năng viết cho trẻ bằng con mắt trẻ. Người sáng tác cho thiếu nhi phải thực sự hòa nhập với cuộc sống trẻ thơ, sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng và mang lại sự thành công cho tác phẩm. Chính vì sống và viết bằng trái tim yêu trẻ đã giúp Nguyễn Ngọc Phú viết nên “những bài thơ nho nhỏ” như “ những ô cửa xinh xinh” song lại mở ra những ô trời xanh để các em đón thanh âm, hương sắc của cuộc sống đất trời, vạn vật.

“Mùa chim” dành cho lứa tuổi nhi đồng vì vậy nhân vật chủ yếu là các loài vật, cỏ cây, đồ vật... rất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của các em. Thực ra, những nhân vật này hiện diện trong hầu hết các sáng tác của những nhà thơ viết cho thiếu nhi và có không ít người đã khẳng định được tài năng của mình. Thế nhưng với sự hòa quyện giữa mạch thơ của truyền thống và thế giới tuổi thơ tươi mới, “Mùa chim” vẫn có sức lôi cuốn và tạo được dấu ấn riêng trong lòng bạn đọc.

Trước hết nói về phương diện giá trị nội dung. Võ Quảng - nhà thơ thân thuộc của các bạn nhỏ từng cho rằng “Người viết cho thiếu nhi là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo”. Điều đó đã chứng tỏ ông rất đề cao chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi. Trong “Mùa chim”, chức năng này có khi lắng đọng ở những câu cuối, hoặc đoạn cuối bài thơ song phần lớn thường được đan cài một cách kín đáo vào cảm xúc, hình tượng và chức năng thẫm mĩ…

Tập thơ là một vốn tài liệu sống động về thế giới tự nhiên. Bằng khả năng quan sát tinh tế, sự hiểu biết sâu sắc và cách thể hiện sinh động, sáng tạo, Nguyễn Ngọc Phú đã dẫn các em đến với nhiều không gian quen thuộc nhưng lại khám phá bao điều vô cùng mới lạ, hấp dẫn. Thế giới bỗng trở nên mới lạ, kì thú từ chính những điều gần gũi, thân thuộc xung quanh chúng ta. Từ những kinh nghiệm dân gian, tác giả đã giải mã sự phản ứng của cỏ cây, loài vật trước sự chuyển mình của đất trời bằng hình ảnh thơ quen thuộc nhưng giàu nhịp điệu, cảm xúc giúp các em dễ nhớ, dễ nhận biết các hiện tượng tự nhiên để ứng dụng vào cuộc sống:“Trời đang lặng gió/ Mây nổi tê tê/ Khớp xương bà nhức/ Hình như bão về// Bắt đầu Kiến Lửa/ Gánh gió leo rào/ Chuồn Chuồn rối rít/ Từng đàn lượn chao/Em tìm mắt bão/ Dấu ở chỗ nào/ mà sao cây cỏ/ Biết trước bão vào” (Mắt bão). Ngòi bút Nguyễn Ngọc Phú giống như kính vạn hoa khi miêu tả thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá… đáp ứng sở thích ưa  khám phá, hiểu biết của tuổi thơ. Thật thú vị khi chúng ta chiêm ngưỡng những hình ảnh phác họa sinh động về các bộ trang phục đa phong cách, đa màu sắc, kiểu dáng của con người và vạn vật:“Cơn mưa mặc áo tơi/ Bằng đám mây màu xám/ Gặp ngày nắng trải phơi/ Áo tơi thành lụa trắng// Mưa bóng mây áo ngắn/ Cơn mưa bão áo dày/ Mưa ngâu thì áo mỏng/ Áo dài mưa bụi bay// Áo khoác hờ qua vai/ Cơn mưa rào đỏng đảnh/ Bỗng rùng mình chợt tạnh/ Quên cả cúc không cài”(Cơn mưa mặc áo). “Cây mặc áo lá/ Mẹ mặc áo tơi/ Mây mặc áo gió/ Choàng xanh da trời/ Quả đồi mặc cỏ/ Cánh đồng mặc rơm/ Dòng sông mặc nước/ Thuyền trôi mặc nước/ Em ngồi xâu chỉ/ Bà mặc tuổi già” (Áo). Đến với khu vườn của tuổi thơ trong “Mùa chim”, tâm hồn như được rộng mở để giao hòa với âm thanh, màu sắc, hương thơm của muôn vàn cỏ cây, hoa lá. Các loài quả, loài hoa như đang  bừng lên sự sống, ngào ngạt tỏa hương, khoe sắc đã phả vào cảm xúc người đọc tình yêu thiên nhiên tha thiết: “Quả Hồng như chiếc đèn lồng/ Xù gai quả Mít, bềnh bồng bóng bay/ Quả Na mắt nhắm ngủ ngày/ Quả Dưa lăn lóc, sum vầy Chuối Tiêu/ Chôm Chôm là quả lắm điều/ Thị vàng không ngủ cứ kêu: nóng lòng” (Quả); “Hoa Hồng ủ nắng vào trong/ Dạ Hương ngày ngủ đêm vòng tảo hương/ Mặt trời mọc phía Hướng Dương/ Hoa Quỳnh thức giấc trong vườn nửa đêm/ Mười giờ đến hẹ lại lên/ Ước gì Dâm Bụt phép tiên hiện về”(Hoa)… Tất cả như đang chào đón, mời gọi. Mùa hạ rộn rã với dàn hợp xướng ve sầu, bản hòa tấu đồng ca của lũ Dế; mùa thu thơm nồng hương quả; mùa đông “Cải cuộn tròn khoe rét/Vườn thêm nhạt cánh hoa” (Rét), “Nước nổi màu bồ hóng/ Không nấu vẫn bốc hơi/ Hay mùa đông giấu lửa/ Sau màu tro da trời” (Mùa đông)… Đọc những bài thơ anh viết về thiên nhiên tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của nhà thơ Phạm Hổ khi bàn về sáng tác thơ cho thiếu nhi “Thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp, bằng chính cái đẹp thiên nhiên dạy cho ta yêu cái đẹp, bằng chính sự phong phú, thiên nhiên gợi cho ta nên có cuộc sống phong phú về vật chất và tinh thần”.

    Qua nhiều bài thơ nghộ nghĩnh, vui tươi mô tả cuộc sống nhộn nhịp như ngày hội của loài vật, tác giả muốn các em được hòa mình vào không khí, niềm say mê lao động để thêm yêu cuộc sống. Đó là chị cào cào  may áo (Cào cào may áo), chú chuồn kim xâu chỉ (Hoa nắng), chị cua càng  thổi xôi …/ Tép chuyên nhóm lửa/ Bà Sam dựng nhà/ Tôm đi chợ cá/ Cậu Ốc pha trà…(Cua càng thổi xôi),  “Thập thò Chuồn Lửa/ Nhóm bếp cho bà/ Chuồn Voi cõng bão/ Qua mây mỡ gà// Nhóng nhánh Chuồn Ớt/ Nhấm khói cay cay/ Chuồn Kim thì bận/ Vá may suốt ngày// Lim dim Chuồn Đá/ Ngủ gật bờ ao/ Giật mình tỉnh giấc/ Gánh cơn mưa rào.”(Chuồn chuồn), “Cỏ lác thì dệt chiếu/ Cỏ may ham thêu thùa/ Cỏ gấu làm vị thuốc (Cỏ); Mùa gặt chim bay về/ Lượn theo vòng lưỡi hái/ Tìm hạt lép trong rơm/ Nhặt hạt vàng rơi vãi…/Nhặt những gì bỏ sót/ Sau no ấm mùa màng (Mùa chim)….

  Nhiều học bài học toát lên từ hình tượng thơ giàu ẩn dụ, biểu trưng, liên tưởng gợi cho các em nhiều suy nghĩ để ngày một lớn khôn. Từ hình ảnh “Một mình - một bóng/ Nghiêng ngả lượn vòng/ Lái thuyền lướt thẳng/ Không hề uốn cong” các em cảm nhận được sự mạnh mẽ, kiên cường của cây buồm khi lái con thuyền vượt qua bao sóng gió giống như những người dân lao động bền bỉ của làng biển. Từ những hình ảnh hàm ẩn nhiều ý nghĩa: “Cây rơm không có lá/ Nở một giấc mơ vàng/ Cọng rơm gầy gò quá/ Nuôi chín bao mùa màng/ Dáng cây rơm nghĩ ngợi/ Bao vất vả đi qua/ Cho mùi cơm gạo mới/ Thơm tỏa lan trước nhà/ Ngày ủ bóng cho gà/ Đêm quây thành nệm ấm/ Cho giấc mơ của em/ Thơm mật ong đồng ruộng/ Đầu đội chiếc nồi đất/ Xương sống: cọc - tre - vườn/ Cây rơm nuôi bếp lửa/ Qua bao mùa bão dông” (Cây rơm), trẻ thơ nhận thức được muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc phải trải qua bao vất vả, nhọc nhằn, siêng năng, chịu khó… để rồi càng thêm yêu quý, trân trọng người dân lao động. Từ những cánh võng tre, võng đay, võng dù gắn bó với tuổi thơ của bé, gắn với tình yêu thương của ông bà, cha mẹ đã gợi các em liên tưởng đến hình dáng những chiếc võng khác trong thế giới vạn vật để rồi đặt ra câu hỏi vừa bất ngờ vừa xúc động“Bao nhiêu cánh võng/ Đều mắc hai đầu/ Lưng bà võng xuống/ Biết mắc vào đâu” (Võng). Bao cảm xúc và suy ngẫm lắng sâu ở cách kết thúc bỏ ngỏ này. Câu hỏi sẽ được trả lời bằng chính tấm lòng, tình yêu thương các em dành cho người bà yêu quý của mình.

Với tập thơ “Mùa chim”, Nguyễn Ngọc Phú đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong nghệ thuật thể hiện phù hợp với tâm lí trẻ thơ.

Trẻ em vốn có khả năng kì diệu là luôn diệu kì hóa thế giới xung quanh. Vì vậy, thơ Nguyễn Ngọc Phú đã đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của chính con người. Các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, tượng trưng… được tác giả sử dụng tối đa và tạo nên không ít sự độc đáo, mới mẻ. Mỗi sự vật bình thường, vô tri, vô giác đã được nhà thơ thổi vào hơi thở của sự sống của con người lấp lánh vẻ đẹp lung linh, kì diệu, gợi mở trí tưởng tượng của trẻ thơ.              

Đó là thế giới động vật, thực vật được nhà thơ gọi bằng những cái tên hết sức thân mật, gần gũi, thân thiết với trẻ như ông Dã Tràng, bà Sam, cậu Ốc, chú Chuồn Kim, chàng Châu Chấu, chị Cào Cào, cô Cua Càng... Đặc biệt ở những bài thơ có sự sáng tạo ở phương diện ngôn từ như Hoa nắng, Cơn mưa mặc áo, Quả đêm, Quả trăng, …có nhiều hình ảnh được "lạ hóa" trong những liên tưởng bất ngờ, thú vị mở ra không gian tươi mới, hấp dẫn, ngộ nghĩnh, sinh động tràn âm thanh, hương thơm và màu sắc chỉ cảm thấy mà không sao chạm được, nhìn được: “Nắng sàng qua mắt lá/ Chấp chới nở thành hoa/ Chú Chuồn kim xâu chỉ/ Thêu nắng lên mái nhà” (Hoa nắng); “Mầm nắng vươn tí tách/ Khuông nhạc hóa rãnh cày/ Nắng như gà mổ thóc/ Em nhặt về ươm cây” (Tuổi cây);  “Mỗi tháng một rằm/ Trăng tròn má bé/ (Gọi Trăng bằng ông/ Bé thường thích thế!)/ Đầu tháng giống lá/ Cuối tháng trổ mầm…/ Trung thu phá cỗ/ Nhìn lên vòm trời/ Quả Trăng nhả hạt/ Thành ngàn Sao rơi” (Quả Trăng); “ Chùm đèn trong phố nhỏ/ Chín không bao giờ mềm/ Quả thức khi em ngủ/ Mới gọi là: Quả đêm” (Quả đêm).  Có đôi khi một chớp lóe trong khoảnh khắc sáng tạo đã giúp Nguyễn Ngọc Phú chạm khắc hình dáng, tư thế, hoạt động của người dân lao động miền biển bằng tạo hình bằng ngữ nghĩa rất thú vị“Giống như một chú Cào Cào/ Người đi cà kheo dưới nước/ Chiếc vó thùng thình vớt ruốc/ Hình như vớt cả chiều lên” (Biển). Và còn có thể kể thêm rất nhiều những bài thơ sử dụng các biện pháp tu từ một cách khéo léo, tinh tế vừa gần gũi, thân quen, vừa mới lạ, bất ngờ như Biển và mặt trời, Mùa đông, Cây rơm,… Đọc “Mùa chim”, chúng ta nhận thấy giữa thế giới trẻ thơ và thế giới muôn loài có một mối tương giao xúc cảm vừa kì lạ vừa đáng yêu biết bao. Có thể nói nhà thơ đã rất thành công khi nhập vai em bé để miêu tả  thiên nhiên vạn vật bằng các giác quan và trái tim yêu thương của mình.

Trong “Mùa chim”, hình thức hỏi - đáp xuất hiện khá nhiều như là một phương tiện nghệ thuật để nhà thơ phản ánh tâm lí, tâm hồn, tư duy và tình cảm của trẻ. Quan sát thế giới xung quanh, trẻ em vẫn thường đặt ra những câu hỏi vì sao, sao lại thế... thậm chí có những câu hỏi hết sức hồn nhiên, ngô nghê nhưng vẫn rất đáng yêu. Điều đó cũng thể hiện sự nắm bắt tinh tế những nét tính cách đặc trưng và hệ quả tất yếu của nhu cầu ham khám phá, hiểu biết ở lứa tuổi nhi đồng. Thực ra, hình thức hỏi - đáp không phải là sáng tạo riêng của Nguyễn Ngọc Phú bởi nó được sử dụng nhiều trong thơ viết cho thiếu nhi. Đóng góp của anh là ở chỗ đã sử dụng thành công để tạo ra những bài thơ hay và lồng chứa trong đó những thông điệp nghệ thuật :  Bà ơi sao cây Gạo/ Lại mọc giữa đồng ta/ Tháng ba hoa Gạo đỏ/ Rụng cánh vào phù sa/ -  Gạo không làm ra lúa/ Tỏa bóng rợp cánh đồng/ Che thợ cày thợ cấy/ Giữa nắng trưa oi nồng...”(Cây gạo)...  Ở tập thơ này, nhà thơ thường sử dụng một vế tạo câu hỏi, chỉ hỏi chứ không đáp. Đó là một dạng câu hỏi tu từ, một biện pháp nghệ thuật để tâm tình, trò chuyện, trao đổi để cùng các em khám phá bao điều bí ẩn, lí thú về tên gọi, đặc điểm, chức năng, hoạt động… của thế giới loài vật, cỏ cây: “Sao gọi là sao chổi/ Quét gì ở trên trời” (Sao); “Cỏ có tên cỏ Mật/ (Có nấu kẹo được không?) (Cỏ); “Quả cau có tai đâu/ Sao gọi là Cau điếc// Quả bí không nhọn sắc/ Lại gọi là Bí đao// Mèo có phải quả đâu/ Sao gọi là mèo mướp” (Hỏi);...  “Cá Chuồn có cánh đâu/ bay là là mặt nước/ …Cá Ngựa chẳng có bờm/ Ăn phù du thay cỏ/ Không biết hỏi: đâu đâu/ Vẫn gọi là cá Chó!/ Chẳng rù rì mờ tỏ/ Sao gọi là cá Ong/… Chọn bạn chơi thân thiết/ Sao lại gọi cá Lầm/ Mắt cá mọc ở chân/ Nhắc em đi khỏi lạc” ().  Ngọn đèn Đom Đóm kỳ lạ quá thôi/ Trong mưa càng sáng/ Nháy mắt liên hồi/ Bão to không tắt/ Nhấp nháy hàng mi/ Đom Đóm tài thật/ Hỏi thắp bằng gì? (Ngọn đèn Đom Đóm). Phải sống bằng chính cuộc sống của các em, phải suy nghĩ theo lối suy nghĩ của các em thì Nguyễn Ngọc Phú mới tạo ra được những câu hỏi ngỗ nghĩnh, trẻ thơ đến vậy. Có thể nói anh đã thổi vào những khúc đồng dao hơi thở mới đầy sáng tạo thú vị, hấp dẫn.  

  “Mùa chim” còn tạo được sự bất ngờ, hứng thú bởi những chi tiết hồn nhiên, ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, thông minh. Thật lí thú khi các phụ tùng của chiếc xe đạp bỗng biến thành bữa ăn ngon lành: “Nào bắt đầu rán bánh/ Mỡ phồng căng đáy nồi/ Bánh đựng bằng gì nhỉ?/ Đĩa đây rồi bạn ơi// Gắp hành bằng đũa nhé/ Thêm xúc xích ăn kèm/ Cá cứ kêu: chép! chép!/ Khô dầu là cháy nhem// Hoá ra chiếc xe đạp/ Bỗng biến thành bữa ăn/ Bạn ơi đừng sốt ruột/ Món cuối cùng là... tăm”(Bữa ăn: chiếc xe đạp).  Những thắc mắc hết sức tinh nghịch, ngộ nghĩnh “Tóc bà thì bạc trắng/ Sao tóc đèn lại đỏ/ Đèn kêu: Tớ ấm đầu!” (Tóc đèn);   “Ô hay ngọn lửa/ Kéo được tàu đi/ Về thăm bà ngoại/ Chẳng thấy nóng gì?” (Đi xe lửa); “Nước nổi màu bồ hóng/ Không nấu vẫn bốc hơi/ Hay mùa đông giấu lửa/ Sau màu tro da trời”(Mùa đông); tại sao mọi người vẫn thường gọi là ve sầu, nhưng  “...Dàn đồng ca mùa hạ/ Ve lĩnh xướng mở đầu/ Vít hoa vào thành quả/ Ve chẳng bao giờ sầu” (Ve sầu mùa hạ);…không chỉ cho thấy những phát hiện độc đáo của một trí tưởng tượng phong phú, mà còn thể hiện sự gắn bó và  yêu thương của tác giả dành cho trẻ thơ.

Mùa chim”  chính là vẻ đẹp tinh khiết, trong trẻo, hồn nhiên của thế giới trẻ thơ trong sự hòa điệu với thế giới tự nhiên lấp lánh muôn sắc màu. Không những thế, tập thơ còn là chiếc chìa khóa để mở rộng cánh cửa tâm hồn của những bạn đọc nhỏ tuổi, đồng thời mở ra cánh cửa “ngôi nhà tuổi thơ” trong kí ức người lớn. Phải khẳng định rằng tập thơ có rất nhiều câu thơ, bài thơ đã khơi mở, kích thích trí tưởng tượng, cảm xúc trong trẻo và gợi mở  nhiều bài học ý nghĩa cho thiếu nhi. Tuy nhiên, vẫn còn một số câu thơ ở trong một số ít bài thơ khiến người đọc có cảm giác tác giả đã đứng ngoài tuổi thơ để viết về tuổi thơ. Độc giả mong anh tiếp tục cuộc hành trình trở về tuổi thơ ở những tập thơ tiếp theo để phản ánh chân thực, sinh động, đa chiều hơn nữa cuộc sống của trẻ em hiện nay, đồng thời lồng vào đó những bài học nhân sinh nhẹ nhàng, tự nhiên, nhưng vô cùng thấm thía và sâu sắc. Chúng ta vẫn chờ đợi điều đó, song với sự hiện diện của “Mùa chim”, phải khẳng định rằng tập thơ không chỉ làm phong phú thêm thơ Nguyễn Ngọc Phú mà còn là sự đóng góp không nhỏ của anh vào mảng văn học thiếu nhi nói riêng và thơ ca Hà Tĩnh đương đại nói chung.

 

 

 

 

 

 

 

 

Tìm hiểu hình thức cưới hỏi của người Lào

 

         Mỗi dân tộc trên thế giới có mỗi hình thức cưới hỏi đặc trưng. Nhân dân Lào cũng vậy, từ xưa đến nay họ có hình thức cưới hỏi mang đậm bản sắc văn hóa của mình.

   Ở Lào, việc cưới hỏi  được tiến hành theo phong tục tập quán. Thời gian tổ chức lễ kết hôn thường sẽ được tổ chức sau hội Mãn chay và tháng đó thường là tháng chẵn.  Địa điểm tổ chức lễ phước lành được quy định tổ chức ở nhà cô dâu. Lễ cưới thì tổ chức theo các cơ quan khác nhau, thường sẽ tổ chức ở hội trường các cơ quan, khách sạn hoặc tại nhà riêng của cô dâu chú rể. Thời gian tổ chức thì thường là vào ngày nghỉ.

   Trước khi tổ chức lễ cưới bên nhà trai sẽ cùng bố mẹ và người lớn mà mình kính trọng cùng đến chơi nhà gái còn được gọi là đi xin dâu. Sau khi thống nhất với nhau, người lớn hai bên sẽ cùng nhau tìm ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ kết hôn. Trước ngày cưới một ngày bên nhà trai và nhà gái sẽ có bạn bè, anh em họ hàng đến tụ tập và trò chuyện chia vui với nhà cô dâu và chú rể.

     Trong ngày cưới, cô dâu và chú rể phải dậy từ sớm để chuẩn bị quần áo, đồ trang sức và trang điểm thật đẹp để chuẩn bị tiến hành nghi lễ. Chỗ ngồi của cô dâu và chú rể được sắp xếp riêng, chú rể sẽ ngồi cạnh trưởng họ bên nhà trai, còn cô dâu ngồi cạnh trưởng họ bên nhà gái. Sau đó, người chủ hôn sẽ tiến hành nghi lễ theo thủ tục và tuyên bố cô dâu chú rể trở thành vợ chồng.

  Theo phong tục tập quán nghi lễ cưới hỏi sẽ bắt đầu bằng việc rước rể. Trước khi bước vào nghi lễ chú rể sẽ được rửa chân trước, người rửa chân cho chứ rể thường là em gái hoặc cháu gái của cô dâu. Khi vào nghi lễ chú rể lại ngồi sát bên cô dâu. Sau đó thầy cúng sẽ là người hướng dẫn trong việc thực hiện làm lễ cầu vía. Lễ sẽ bắt đầu với việc buộc chỉ cổ tay cho thầy cúng, người già trước sau đó đến việc gọi hồn, bón trứng, buộc chỉ cổ tay tặng mâm cúng và đưa dâu đưa rể. Người được chọn để đưa dâu đưa rể  là phụ nữ cao tuổi, không li hôn hay góa bụa và là người đảm đang.

  Sau khi kết thúc nghi lễ, người chủ hôn mời khách nhập tiệc. Trong thời gian này cô dâu chú rể mời rượu khách và gửi lời cảm ơn tới từng người một và mỗi người khách sẽ chúc mừng đôi vợ chồng trẻ thêm một lần nữa.

    Việc kết hôn là theo phong tục tập quán và đời sống của người Lào từ xa xưa. Trước khi tổ chức lễ cưới cần phải chuẩn bị rất nhiều thứ. Hiện nay hình thức cưới hỏi cũng có sự thay đổi theo thị hiếu của xã hội đặc biệt là ở các thành phổ lớn. Các cặp đôi sẽ là người quyết định sẽ tổ chức theo kiểu nào và theo mức nào tùy thuộc vào địa vị, kinh tế của mình.

  • Một số hình ảnh về phong tục hôn nhân của người Lào

Hình tượng con người cô đơn trong “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài

 

      Có người đã từng nói rằng: “Cô đơn, cái này đáng sợ hơn cả đói rét và ốm đau”. Dường như hiểu thấu trạng thái tâm lý ấy, các nhà văn sau 1975 đã đi sâu vào diễn tả và rất thành công khi viết về con người cô đơn. Thật vậy, đến với Thiên sứ của Phạm Thị Hoài người đọc dường như bị choáng ngợp bởi nỗi cô đơn tràn ngập ở các nhân vật trong tác phẩm. Nhân vật trong Thiên sứ không chỉ cô đơn trong gia đình, cô đơn trong tình yêu mà sự cô đơn ấy còn được đẩy đến đỉnh điểm, đó là con người cô đơn trong chính bản thân mình.

Hầu hết các nhân vật trong Thiên sứ đều mang nỗi cô đơn ngay trong chính bản thân mình. Nhưng có lẽ được thể hiện rõ nhất trong nhân vật chị Hằng và bé Hoài. Nhân vật Hoài xuất hiện với một hình hài không bình thường, thậm chí là xấu xí. Trong suốt 29 năm, cô luôn tự ti về hình hài của mình: “Tôi lĩnh trọn phần đen đủi, xấu xí, để chị hồn nhiên nhận mọi vẻ đẹp xinh, quyến rũ về mình. Tạo hoá trong cơn cao hứng trước tác phẩm tuyệt vời là chị, đã tiện tay nhặt nhạnh những mảnh đầu thừa đuôi thẹo đắp điếm lên tôi. Không có câu chuyện cổ về hai chị em sinh đôi giống nhau như hai giọt nước. Càng không có chuyện Thuý Kiều, Thuý Vân. Lỗi đâu ở tạo hoá, lỗi ở chính tôi”. Chính sự tự ti đã khiến cô sống khép mình, ngại giao tiếp với bên ngoài. Cô thu mình trong một “ốc đảo” chỉ 400 ô vuông màu nâu. Những con người xuất hiện trong tâm trí của cô bé Hoài chỉ mang một trong hai loại hoặc homo A hoặc homo Z, những nhìn nhận đánh giá của cô về thế giới bên ngoài chỉ qua khung cửa sổ ô vuông hình chữ nhật...

          Hơn thế nữa, để bù đắp những thiệt thòi về hình hài kì dị của mình cô bé Hoài đã thực sự cố gắng trong học tập, tuy vậy những cố gắng của Hoài đều bị phủ nhận. “Từ hồi lớp 5, mặc cảm bị tẩy chay không chịu buông tha tôi. Tôi trốn tránh những cặp mắt hoặc tò mò, hoặc chế nhạo của họ, ngày càng lầm lì, ngày càng chiếm điểm tuyệt đối trong mọi môn học, ngày càng khao khát cảm thông. Tốt nghiệp phổ thông, với 4 điểm 10 tròn trĩnh, để khỏi bật khóc lần nữa trước con mắt những người xa lạ trong vòng 5 năm tiếp theo, tôi ôm riết lấy bậu của sổ mở thẳng vào tim con đường dẫn đến cổng nhà máy rượu bia Hà Nội”. Vì thế, cô thấy nghi ngờ chính bản thân mình, cô buông xuôi tất cả mọi thứ “ tôi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào”, “tôi khước từ các loại bậc thang, nhất là bậc thang dẫn qua các trường đại học và kim tự tháp các địa vị xã hội”. Và tự cho rằng mình là người vô ích đối với cuộc đời này. Đối với Hoài, sự cô đơn chính là không tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia, thấu hiểu “ Tôi có ai? Tôi, đứa con gái út bất đắc dĩ của gia đình, ốc nhỏ lặng câm của thiên hạ, hứng chịu, cái hom giỏ không đáy khiêm nhường”. Câu hỏi  “tôi có ai?”  xoáy sâu vào lòng bạn đọc, càng cho ta thấy được nỗi cô đơn đến cùng cực của nhân vật, sự cô đơn không lối thoát. Cuộc đời của Hoài chỉ như một ốc đảo buồn, cô độc không có dấu tích của niềm vui.

          Đối lập hoàn toàn với vẻ xấu xí của cô em gái, Hằng mang trong mình vẻ đẹp kiêu sa của một nàng tiên, sự thông minh của một cô sinh viên trường ngoại ngữ. Sự toàn diện của cô khiến cho nhiều người phải ngưỡng vọng và ghen tị. Có lẽ bạn đọc ban đầu khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ nghĩ rằng một cô gái thông minh, xinh đẹp như vậy sẽ được hưởng một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng thực tế, Hằng lại rất cô đơn. Hằng dễ dàng có được mọi thứ, nhưng cô lại luôn khao khát theo đuổi, tìm kiếm “ một cái gì đó” không gọi được thành tên, nhưng thực chất cô lại không biết mình muốn gì “giá có thể đánh đổi sắc đẹp lấy một cái gì....Vả lại cái gì? Chị không biết mình muốn gì. Chị ghen tị những người biết rõ điều họ mong muốn, đồng thời hoài nghi họ”. Chính vì không biết mình muốn và cần gì trong cuộc sống, nên mọi thứ diễn ra xung quanh cô đều như vô nghĩa, cô không còn có cảm xúc trước cuộc sống xung quanh. Cô luôn coi cuộc sống này như một trò chơi, ngay cả khi lựa chọn đức lang quân cho mình thì cô cũng chỉ chọn ngẫu nhiên qua những lá phiếu bốc thăm “Đầu tiên chị phó thác cho run rủi,“Đằng nào chả thế, em nhỉ, họ có khác gì nhau, (khanh khách cười). Bốc thăm vậy nhé”. Chị giao tôi 300 lá phiếu, điền đủ các loại tên tuổi đàn ông tuỳ thích”; “Như con tàu không xác định nổi phương vị, chạy trốn cái gì không biết, tìm kiếm cái gì không hay, lại một lần nữa, âu cũng là lần chót, chị phó thác cho một bế bờ nào đó ngẫu nhiên đập vào tầm mắt, trượt theo quán tính, chỉ vì không thể không trượt”. Hằng thực sự buông xuôi tất cả, cô phó mặc cuộc đời mình trong sự chảy trôi vô đinh, như một cánh bèo không biết trôi dạt về đâu.

Vẫn lời thú nhận truyền đời “Chị sợ... Chị sợ...”, câu nói dở dang ấy cứ như ám ảnh theo cô suốt từ năm 17 tuổi đến mãi sau này. Hằng sợ hãi một cái gì đó mơ hồ nhưng lại khiến tâm trí cô hoảng loạn, hoang mang. Sự phó thác số phận mình nên ngay cả trong ngày cưới nỗi cô đơn ấy càng lên đến đỉnh điểm – lạnh lùng, thờ ơ tất cả. “Ngày cưới, chị giữ nguyên cặp mắt hoá đá và nét đẹp buồn, khó hiểu. Chị không phản đối cũng không tham dự tấn trò lố bịch diễn ra xung quanh mình, như thể ấy là một cô dâu khác, một số phận khác chẳng liên quan”. Và có lẽ nỗi cô đơn ngay trong chính bản thân mình của Hằng không chỉ còn là những lạnh lùng nữa mà giờ đây là sự lãnh cảm. Cô trơ lì mọi cảm xúc trước những ham muốn, những khát khao biến động của cuộc đời. Đêm tân hôn, trong cuộc làm tình, cô dường như không hề tham dự “Chỉ cần họ để chị được yên, dõi theo cái cơ thể không chịu cộng tác, cứ lang thang vào một vùng trống trải, muốn chới với mà không thể chới với, không thể tụt hẫng tràn trề... chỉ bởi cảm xúc tận cùng máu thịt không ai đánh thức”“ bao giờ chị cũng còn lại một mình, cố xua đuổi một cảm giác nhớp lạnh trên bụng và mơ ước một vòi hoa sen ngay tại chỗ”. Những khoái lạc cảm xúc khi chung đụng thể xác không còn nữa mà thay vào đó là sự nhơ nhớp, vô cảm.

          Sự mất mát đớn đau thể xác có lẽ không khiến con người ta quá đớn đau bằng  nỗi cô đơn – cái đau đớn khó gọi tên trong lòng, bởi chính nó khiến người ta sợ hãi, tuyệt vọng, thậm chí là lãnh cảm với tất cả. Nhân vật Hoài và Hằng trong tác phẩm mang trong mình một nỗi cô đơn suốt từ những ngày còn bé và cho đến tận sau này. Họ lạc lõng ngay trong chính những khát khao, ham muốn của mình và hơn thế nữa nó đã đẩy họ đến sự nghi ngờ, thờ ơ, vô cảm với cuộc đời.

Đến với Thiên sứ, bạn sẽ hiểu được rất nhiều vấn đề về văn hóa, văn minh hiện đại, về đạo đức nhân sinh…Và chắc chắn, có lúc, bạn sẽ không tránh khỏi giật mình, thảng thốt vì hình như những gì mình bắt gặp trong tác phẩm vẫn hiển hiện đâu đó quanh ta…Như lời nhận xét của Văn Giá: “Thiên sứ là nhân vật của sự cô đơn. Các nhân vật lao vào hành động, sống quyết liệt để rồi cuối cùng rơi vào tình trạng cô đơn”

 

Suy ngẫm về bài thơ “ Phúc Hưng viên” của nhà thơ Trần Quang Khải

 

   Trần Quang Khải ( 1241-1294) là một nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà thơ lớn đời nhà Trần. Ông là tác giả của tập thơ “ Lạc đạo”, nay đã thất truyền chỉ còn lưu lại một số bài. “ Phúc Hưng viên” là bài thơ tức cảnh nằm trong số các bài thơ còn lưu lại của tập thơ này, thể hiện một hồn thơ với những cảm xúc vừa thanh tao vừa ý nhị, sâu sắc.

Nhắc đến Trần Quang Khải là nhắc đến bài thơ nổi tiếng “ Tụng giá hoàn kinh sư” – tác phẩm tiêu biểu cho hào khí Đông A một thời lừng lẫy với âm hưởng hào hùng, ý chí hiên ngang và khát vọng cống hiến hết mình cho nền thái bình thịnh trị lâu dài của dân tộc. Nhưng Trần Quang Khải đồng thời cũng là một nhà thơ với niềm cảm hứng dạt dào và hồn thơ phóng dật . Nhà thơ không chỉ là tác giả của những khúc tráng ca mà còn mang một hồn thơ thanh cao, yêu thích cảnh sống an nhàn, coi nhẹ danh lợi. Bài thơ “ Phúc Hưng viên” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ra đời trong hoàn cảnh khi ông tạm gác gươm giáo để tận hưởng cuộc sống thanh bình, an nhàn giữa khung cảnh thiên nhiên

Phiên âm:

Phúc Hưng nhất khúc thủy hồi hoàn

Trung hữu bình viên sổ mẫu khoan

Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi

Trúc đình vân quyển bích lang can

Thử lai yêu khách kiêu trà uyển

Vũ quá hô đồng lý dược lan

Nam vọng lang yên vô phục khởi

Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an

Dịch nghĩa:

Một dòng nước chảy bao quanh vườn Phúc Hưng

Ở giữa là khu vườn bằng phẳng rộng đến vài mẫu

Bờ mai khi tuyết tan nụ long lánh hạt châu

Đình trúc lúc mây cuốn , lá xanh cành biếc

Nắng lên mời khách đến pha chén trà

Mưa tạnh gọi gia đồng sửa lại giàn thuốc

Trông về phía Nam không có báo hiệu giặc đến

Thảnh thơi trên giường yên tâm với giấc mơ riêng

Hai câu đề như một lời giới thiệu giản dị mà nhẹ nhàng về một khu vườn nơi có khe nước quanh co, bằng phẳng và rất rộng rãi. Đó là nơi ông chọn để vui sống cảnh điền viên bình dị của những năm tháng tuổi già sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của một tráng sĩ. Đến hai câu thực ta lại  thấy nhà thơ  đặc biệt yêu thích nếp nhà cất giữa đồng quê nơi có “ bờ mai”, “ cành trúc” , nơi mà ông được ngắm nhìn vẻ đẹp của thiên nhiên với “ mây cuốn” , “ lá xanh” “ cành biếc”. Những hình ảnh cỏ cây hết sức quen thuộc của làng quê qua nhãn quan của nhà thơ bỗng trở nên lung linh đến lạ kì. Thủ pháp ước lệ tượng trưng ở đây đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, sâu sắc. Sự hòa điệu giữa tâm hồn con người và khung cảnh thiên nhiên ở bốn câu thơ đầu góp phần gợi mở, dẫn dắt mạch cảm xúc của bài thơ:

Nắng lên mời khách đến pha chén trà

Mưa tạnh gọi gia đồng sửa lại giàn thuốc

Cũng giống như các nhà thơ cùng thời, ước muốn trở về với cuộc sống an nhàn khi đất nước đã sạch bóng quân thù luôn là ước mong thôi thúc trong lòng ông. Con người ấy khi nhập thế tích cực bao nhiêu thì khi xuất thế cũng nhẹ nhàng bấy nhiêu. Nỗi lòng ấy cũng giống như mong ước của Nguyễn Trãi sau này:  vui sướng khi được trở về Côn Sơn, về với quê cũ núi xưa để thả hồn mình vào thông xanh, núi biếc “ làm nhà dưới mây, múc nước suối pha trà, gối đầu lên đá mà ngủ” ( Côn Sơn ca). Ở đó con người được hoàn toàn tự do, được hòa mình vào thiên nhiên, với những thú vui tao nhã: khi thưởng rượu, khi uống trà. Tác giả Trần Quang Khải đã dẫn dắt người đọc bước vào thế giới tâm hồn của con người thời trung đại. Họ không chỉ là con người mang trong mình ý chí hào hùng, lòng quyết tâm sắt đá của những tráng sĩ từng xông pha trận mạc, họ còn mang trong mình tâm hồn trong sáng, thanh cao của một thi nhân biết rung cảm thiết tha trước thiên nhiên, cuộc đời. Thế nhưng con người ấy dù vui hưởng an nhàn vẫn luôn canh cánh thường trực trong lòng ý thức trách nhiệm đối với đất nước:

Trông về phía Nam không có báo hiệu giặc đến

Thảnh thơi trên giường yên tâm với giấc mơ riêng

Đến câu thơ kết ta chợt nhận ra rằng sự thảnh thơi , yên lòng mà ông có được chỉ khi đất nước được thái bình, non sông sạch bóng quân thù. Con người ấy dù đã hoàn thành sứ mệnh của đấng một nam nhi nhưng chưa bao giờ quên trách nhiệm của mình với non sông, vẫn giữ trong lòng một tâm thế sẵn sàng cống hiến vì nghĩa lớn. Và những phút giây thảnh thơi yên giấc trên giường nhỏ nơi chốn điền viên là một niềm hạnh phúc vô cùng chân thật, giản dị. Đó còn là niềm tin, là khát vọng của nhà thơ về nền thái bình thịnh trị của đất nước. Đó cũng là cái đẹp, là cốt cách thanh cao của con người thời đại nhà Trần.  

 

  

 

 

Trường Đại học Hà Tĩnh long trọng tổ chức Lễ tổng kết và trao Chứng chỉ tốt nghiệp khóa học Tiếng Việt cho lưu học sinh Lào

Sáng ngày  31/8, Trường Đại học Hà Tĩnh long trọng tổ chức Lễ tổng kết khóa học Tiếng Việt cho lưu học sinh Lào của các tỉnh: Bolykhamxay, Khammuon, Savannakhet, Xiengkhoang, Champasac, Attapu, Salavan, Viengchan và Thủ đô Viengchan.

Phát biểu chúc mừng, ghi nhận những kết quả đạt được của khóa học, TS Đoàn Hoài Sơn - Phó Hiệu trưởng đã dặn dò các em lưu học sinh luôn nỗ lực phấn đấu để tiếp tục chặng đường học tập tiếp theo.

 

Với tình cảm lưu luyến và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy giáo, cô giáo, Em Séng Đườn (Lớp TV12) đã thay mặt các bạn thể hiện tình cảm chân thành trong bài phát biểu của mình.

Giấy khen, Chứng chỉ tốt nghiệp tiếng Việt ghi nhận kết quả nỗ lực phấn đấu của các em khi kết thúc khóa học; quà lưu niệm của trường Đại học Hà Tĩnh là kỉ vật các em sẽ mang theo suốt hành trình học tập ở Việt Nam.